Mục định hướng
 
Bạn đang ở: Trang chủ Pháp Thoại Pháp Thoại, Pháp Luận & Bài viết (text) Diệu Dụng Pháp Thân

Diệu Dụng Pháp Thân

Nhất Hạnh

"Này nữa Xá Lợi Phất! Ở nước Cực Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi Cực Lạc."

Câu kinh này nói về y báo trang nghiêm của cõi Cực Lạc. Y báo là môi trường và hoàn cảnh tương hợp với chánh báo. Chánh báo chính là bản thân đức Bụt A Di Đà. Y báo bao gồm cả nhân dân và cõi nước. Y báo và chánh báo trang nghiêm của cõi Tịnh Độ là do bản nguyện của đức Bụt A Di Đà và nhân dân của cõi nước ấy tạo nên. Cũng vậy, y báo và chánh báo của cõi Ta Bà đều do nghiệp lực cộng đồng của chúng sanh ở cõi này tạo tác ra. Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục. Nhân dân cõi này luôn luôn lao mình vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Độ biến mất, không còn nữa.

Tại sao Bụt Thích Ca nói ở cõi Tịnh Độ không có mặt ba con đường ác? Một mặt thì Bụt A Di Đà thuyết pháp, một mặt thì chim chóc nâng đỡ và hướng mình đi về nẻo hướng thượng, thì làm sao mà có tam ác đạo? Chỉ trừ khi nào ta chán Tịnh Độ và muốn bỏ đi. Điều này là do ta mà ra. Đức Bụt A Di Đà sẽ nói: "Tội nghiệp cho con. Con không muốn ở đây, con lại muốn về bên đó! Nếu ở đây thì con có tăng thân, có Bụt, có chim, có hồ sen, có đủ điều kiện để giữ cho con đừng đi thối lui, nhưng nếu lòng trần của con đã biểu hiện và con muốn trở về với cõi Ta Bà thì con sẽ đánh mất Tịnh Độ và tăng thân này."

Tăng thân là một khung cảnh hiến tặng cho chúng ta sự an ninh. Tăng thân với hai vòng tay vững chãi giữ ta lại trên con đường giới, định và tuệ. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với Tăng thân "Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân." Cõi Tịnh Độ là một tăng thân quý báu nhất.

Khi đi vào bếp để nấu cơm, chúng ta cũng có thể tu chánh niệm được. Đến phiên ta nấu cơm cho đại chúng thì ta vào bếp, thắp một cây hương, dâng hương, rồi bắt đầu nấu cơm. Trong suốt thời gian một giờ rưỡi hay hai giờ làm việc dưới bếp, ta biết thực tập theo dõi hơi thở, biết là đang xắt gọt, rửa nồi hay xào nấu, ... trong chánh niệm. Do đó ta vẫn đang an trú trong cõi nước Cực Lạc. Còn nếu không biết tu thì ta vừa làm vừa giận, vừa làm vừa buồn, vừa ganh, vừa nói chuyện hay vừa nói xấu người khác, thì tuy cũng là khung cảnh ấy nhưng đó là cõi Ta Bà. Ta có giới, định và tuệ, tức là có sự thực tập thì nhà bếp là Tịnh Độ chứ không phải là Ta Bà. Tất cả đều tùy nơi ta. 

Bất cứ một cái gì ta thấy được và tiếp xúc được đều có thể biến thành pháp khí. Cái chổi hay cái nồi cũng là pháp khí, cái gì cũng có thể trở thành một điều kiện thuận lợi cho sự tu học của ta. Đó là tài năng của đức A Di Đà. Tài năng của đức A Di Đà là sử dụng tất cả những gì đang có mặt để đưa dân chúng của mình đi lên trong sự tu học. Tài năng của Tăng thân cũng vậy, từ chuyện nấu nướng, dọn dẹp, làm vườn, cho đến việc chăm sóc cây cảnh, tất cả những cái đó đều trở thành phương tiện tu học. Chúng ta phải sử dụng tất cả những yếu tố đó để đi tới trên con đường tu tập và chuyển hóa.

Trong cõi Tịnh Độ người ta cũng nấu cơm, ăn uống, đi hái hoa cúng Bụt, nghe kinh và đi thiền hành. Cõi ta đang ở cũng vậy thôi. Không cần phải qua bên đó ta mới làm được những chuyện kia. Ngay bây giờ ta cũng có thể làm được những chuyện mà bên ấy người ta đang làm, tức là hái hoa, cúng Bụt, tụng kinh, nghe kinh, rửa chén, ăn cơm, đi kinh hành... Cõi Tịnh Độ đẹp như vậy, cõi Tịnh Độ đang có mặt cho chúng ta. Chỉ có một điều là chúng ta đang có mặt cho cõi Tịnh Độ hay không mà thôi.

Trong khung cảnh Tăng thân, mỗi khi chúng ta rửa nồi, pha trà, đi tắm hay đi ra vườn, mỗi hành động và mỗi bước chân của chúng ta đều phải trở thành một câu thuyết pháp. Bước đi một bước, đó là một bài thuyết pháp, nâng chén trà lên để uống cũng trở thành một bài thuyết pháp. Bởi vì trong khi nâng chén trà lên ta có sự vững chãi, thảnh thơi và ung dung. Uống trà như vậy là thuyết pháp. Ăn cơm như thế nào để có hạnh phúc và an lạc trong khi ăn, thì ăn cơm cũng là thuyết pháp. Nhìn vào ta người khác đang thấy một vị Bồ Tát trong Tịnh Độ. Điều này không phải đợi tới ngày mai ta mới làm được. Ta phải làm được ngay ngày hôm nay. Làm được một ngày là ta đã đi đến Tịnh Độ được một ngày.

Vì muốn cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của Ngài, đức A Di Đà đã tạo ra các loài chim mầu nhiệm. Cũng vậy, muốn cho pháp môn và giáo lý của đức Bổn Sư được thấm nhuần trong tăng thân chúng ta cũng phải làm như thế. Mỗi cử chỉ, lời nói và ý tưởng của ta đều phải trở nên một phương tiện để thuyết pháp. Ta phải tham dự vào sự nghiệp của pháp thân, vì pháp thân là thân của pháp, thân luôn luôn biểu hiện pháp. Một bài thuyết pháp của ứng thân hay hóa thân có thể dài tới một giờ rưỡi hay là hai giờ. Nhưng thế nào ứng thân cũng phải dừng lại để nghỉ ngơi, để ăn cơm. Còn pháp thân thì khác, pháp thân thuyết pháp liên tục không ngừng. Thuyết pháp bằng chim, bằng mây, bằng gió, bằng bước chân hay bằng hơi thở. Vì vậy chúng ta phải tham dự vào pháp thân. Chúng ta thuyết pháp bằng đời sống hàng ngày của chúng ta. Ta thuyết pháp bằng hai bàn tay, bằng hai bàn chân, bằng cái miệng trong khi ăn hoặc khi nói và bằng hai con mắt trong khi nhìn. Bổn phận của người sống trong Tịnh Độ là phải tham dự vào sự nghiệp của pháp thân. Nghĩa là phải thuyết pháp bằng đời sống hàng ngày của chúng ta. 

Ngày xưa thánh Ghandhi có nói rằng: "Đời sống của tôi là cái thông điệp của tôi." (My life is my message) Thông điệp không phải viết trên giấy mà viết bằng đời sống hàng ngày. Một bài thuyết pháp cũng vậy, không phải chỉ làm bằng ngôn ngữ và danh từ mà thôi. Bài thuyết pháp còn được làm bằng bước chân, hơi thở, động tác và cái nhìn của ta. Tham dự vào sự nghiệp của pháp thân là điều chúng ta có thể làm được hàng ngày. Nhìn vào cách ta đi đứng và tiếp xử hàng ngày tự nhiên người ta sinh lòng kính ngưỡng và phát tâm xuất gia tu tập. Như vậy ta đã là một phần của đức Bụt Di Đà.

 "Xá Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng."

 Hiện tượng này ở đâu cũng có. Mỗi khi có gió đi ngang các hàng cây tùng hay các hàng cây phong thì âm thanh cũng mầu nhiệm vô cùng. Trong kinh không nói tới mưa, nhưng tiếng mưa cũng êm đềm dễ chịu lắm. Những cơn mưa có khi rạt rào, có khi êm đềm làm cho tâm hồn ta dịu lại và ta nghe trong tiếng mưa có âm nhạc của chư thiên, có tiếng thuyết pháp. Nếu nhìn kỹ cõi Ta Bà với tất cả niệm và định, ta sẽ thấy cõi Ta Bà này cũng đẹp lắm. Tôi nghĩ rằng cõi Tịnh Độ có đẹp cách mấy thì cũng chỉ đẹp bằng cõi Ta Bà này mà thôi. Tất cả những gì ta thấy ở cõi Tịnh Độ thì bên này ta cũng có thể thấy được cả. Chúng ta đã từng nghe các vị tổ sư nói: ‘‘Tịnh Độ ở trong tâm mình.’’ Trong tâm mình có sự nhẹ nhàng, có sự cởi mở, có sự thanh thoát thì nhìn cái gì cũng thấy là Tịnh Độ cả.

"Mỗi khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi diệu..."

Chúng ta nghĩ rằng ở ngoài tiệm kim hoàn mới có những hạt châu báu, nhưng kỳ thực những hạt sương long lanh trên ngọn cỏ cũng đẹp và còn đẹp hơn cả kim hoàn nữa. Và hay nhất là không có ai muốn ăn cắp hết. Tại vì ở đâu cũng có và chúng đẹp vô cùng. Nói rằng những hàng cây đó làm bằng châu báu, nhưng những hàng cây làm bằng châu báu thì đâu có đẹp bằng những hàng cây thật. Trên bàn Bụt, thỉnh thoảng ta dâng cúng những hoa sen làm bằng gỗ, bằng bạc, bằng ngọc hay bằng vàng nhưng những bông sen dâng lên trên bàn Bụt làm bằng vàng hay bằng ngọc thì đâu có đẹp bằng những bông sen thật. Những cái gì nhiệm mầu đã tả trong kinh A Di Đà đều có đủ hết ở đây, chỉ cần ta có tâm hồn thanh thoát và an lạc là có thể thấy hết tất cả. 

Ở cõi Tịnh Độ, khi có gió đi qua các hàng cây và các màn lưới châu báu thì có những âm thanh vi diệu, có âm nhạc và có lời thuyết pháp. Và khi được nghe những âm thanh như vậy thì đó là cơ hội để dân chúng nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Ở đây chúng ta cũng có thể làm y hệt như vậy. Chúng ta có tiếng chuông đại hồng, tiếng chuông gia trì, tiếng chuông báo chúng, tiếng đồng hồ và tiếng điện thoại. Chúng ta có những tiếng xướng kệ của các sư chú và các sư cô, có những hình ảnh đi ra đi vào của thiền sinh trong chánh niệm. Tất cả những cái đó đều là những phương tiện để nhắc ta trở về với sự niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Dứt khoát là không cần đi đâu hết, ở đây ta cũng có đủ tất cả những gì diễn tả trong kinh A Di Đà.

 

(Trích: Thiết Lập Tịnh Ðộ -  Kinh A Di Ðà Thiền Giải của Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Giảng Tại Xóm Mới Làng Mai, Khóa Mùa Thu 01-10-1998, Tịnh Thuỷ (tinhthuy2@yahoo.com)Post Lên Các Diễn Ðàn Internet )