Cậu Bé Chăn Trâu Thảnh Thơi

Thầy Pháp Cơ - Pháp thoại tại Lộc Uyển (Jan, 2010)

Con kính bạch Sư Ông,

Con kính thưa đại chúng,

Sáng nay con đi thiền hành với đại chúng theo lời hướng dẫn của thầy Pháp Dung. Thở vào con bước hai bước, thở ra con bước hai bước và khi đi một hồi thì con thấy tâm con lắng dịu xuống. Và con đem cái tâm lắng dịu của con hướng về những hiện hữu mầu nhiệm, tiếp xúc với những vòm cây xanh mát, với nắng ấm và hoa thơm cỏ lạ chung quanh Lộc Uyển. Tâm thức con trở nên nhẹ nhàng, bình an và rất thoải mái. Con tiếp tục đem tâm thức nhẹ nhàng thoải mái này tiếp xúc với những gì chung quanh như các bạn đồng tu và thiên nhiên. Và từ từ con thấy con là một phần của thiên nhiên và con không cần phải cố gắng để thưởng thức thiên nhiên nữa, vì thiên nhiên bình yên bây giờ hình như đã thấm nhuần và đang luân lưu, trôi chảy trong con. Con tiếp tục đi tới và bỗng nhiên con nhận ra rằng đằng sau con là quá khứ đã qua và trước mặt con là tương lai sắp tới; và nếu trước mặt con đẹp và sáng tỏ thì quá khứ sau lưng con cũng đẹp và sáng tỏ. Vì thế, trong hiện tại và tương lai, nếu chúng ta sống đẹp, sống có ý thức thì dĩ nhiên quá khứ chúng ta cũng sẽ rất đẹp, cũng có ý thức và mang theo nhiều kỷ niệm đẹp.

Con có một kỷ niệm về chăn trâu, để con kể đại chúng nghe cho vui. Hồi con còn nhỏ, con sống ở nông thôn. Ba của con theo nghề làm ruộng và có đến 13 người con và hơn 30 con trâu; và con là em bé chăn mấy chục con trâu đó. Khi chăm sóc đàn trâu, buổi sáng con thả chúng ra đồng ăn cỏ, đừng cho chúng chạy đi ăn thóc lúa hoặc khoai sắn của nhà người ta, và vì thế lúc nào mình cũng phải có mặt cho đàn trâu của mình. Nhưng vì buổi sáng phải đưa trâu ra đồng, lo canh giữ và chăm sóc chúng rồi đến chiều tối lại lùa trâu về nhà, nên em bé chăn trâu không có thời gian để học nhiều. Cho nên hồi nhỏ con đã 13 tuổi mà chỉ học đến lớp Ba thôi. Ở xã hội ta hồi đó, người ta thường chê và chửi những kẻ ngu dốt, không biết chữ là “đồ chăn trâu!”.

Khi chăn trâu mình phải biết cách gom bầy trâu mình lại, vì trâu có rất nhiều loại. Có con khi mới thả ra là nó chạy đi tìm lúa để ăn và phá khoai phá sắn chứ không chịu nhập theo đàn. Khi đàn trâu đang đi với nhau, có con lặng lẽ tách riêng ra và đi lang thang một mình; có con lại không chịu đi, cứ đứng nguyên một chỗ, không theo đàn trâu ra đồng ăn cỏ. Cho nên nhiệm vụ người chăn trâu trước hết là phải gom bầy trâu lại với “bộ đồ nghề” là khúc cây dài từ 5 đến 7 tấc, gọi là “cây làn can” và một sợi dây dài gọi là sợi “dây dàm”; dàm có nghĩa là kéo và gút lại. Còn cây làn can để dùng khi có con trâu nào không nghe lời thì mình đánh “bốp” vào sừng nó. Cái “dụng cụ” thứ ba là mình phải chọn trong bầy trâu một con tốt nhất, con trâu đó gọi là con trâu “ven bầy”; chữ ven ở đây có nghĩa là gom lại, và người ta còn dùng danh từ thứ hai là “cầm bầy”, và cầm có nghĩa là giữ đừng cho nó tản ra. Cho nên con trâu này phải là con trâu nhanh nhất, mạnh nhất và giỏi nhất ở trong bầy.

Con nghĩ cũng lạ! Sao thường người ta cứ hay khinh rẻ kẻ chăn trâu là ngu là dốt, là không biết chữ, mà trong nghề người ta lại dùng toàn danh từ Hán-Việt hay chữ Nôm như thế này! Cứ “ven” rồi “cầm” nghe sao rắc rối quá! Trở lại chuyện “ven” trâu: trong khi chăn trâu, nếu em bé chăn trâu thấy có con trâu nào rời khỏi đàn, em liền thả con trâu “ven” ra để nó chạy đi “ven” con trâu kia trở về. Khi trâu ăn no rồi thì mình phải biết gom trâu về một chỗ cho chúng nghỉ ngơi, đừng để chúng đi phá phách và cũng để mình có chút thời gian vui chơi. Trâu là một loại súc vật ăn rất lâu no, nó cứ đi, cứ chạy chỗ này qua chỗ khác và nó có thể ăn 5 hay 6 tiếng đồng hồ và lúc nào mình cũng phải có mặt ở đó. Khi thấy trâu ăn no rồi thì người chăn trâu phải thông minh tìm một chỗ trống để lùa bầy trâu đến cho nó nghỉ và chỗ đất trống đó gọi là cái “láng”. Láng có nghĩa là rộng, trống trải, không có đối tượng gì để trâu chạy theo. Chúng không còn lúa thóc khoai sắn để phá hoại nữa; và khi đó mình cũng được rổi rảnh đôi chút, mình khỏe, mình có thời gian xuống bờ ruộng chơi và chăm sóc con trâu cầm bầy.

Ai bảo chăn trâu là khổ?

Ta ngồi mình trâu, ta vuốt cái hàm râu,

Và con mắt lim dim, ta nắm đuôi trâu, ta rờ bụng trâu.

Bầy trâu thường chơi với những con hạc. Ở đồng trống thường có những con hạc rất đẹp mà người chăn trâu gọi là con “cò trâu” vì nó bự lắm, to giống… con trâu; ở quê, con gì bự đều kêu là trâu – con cò trâu. Còn người nông dân, khi gọi theo chữ thì gọi là “cò ngà”, và người văn thơ một chút thì gọi là con hạc. Con hạc có một cọng lông dài ở trên đầu và nó rất thích những cảnh vắng vẻ, thích sống trên những cánh đồng trống. Khi con trâu đến vùng đất trống trải đó thì hai con vật này hay chơi đùa lân mẫn với nhau. Lúc đó người chăn trâu cũng ca hát vui chơi hoặc bắt chước những điệu ca của con hạc. Con hạc hát rất hay và nó múa cũng rất đẹp. Con trâu thường nằm nhai cỏ và con hạc thì lân la đến gần trâu để ăn, để chơi và để múa hát. Loài hạc múa rất đẹp và hát cũng rất hay. Để con thử hát quý vị nghe có giống không nghen. Hồi đó con nhại giống lắm, không biết bây giờ còn giống hay không? Con hạc nó kêu: “Rờ rờ r r r r, rờ cốc, rờ cốc. Rờ rờ r r r r, rờ cốc, rờ cốc”. Đó là cái âm con hạc phát ra khi nó múa, và tiếc quá, giọng con không trong bằng giọng con hạc!

Và khi rảnh rang, người chăn trâu thường học trong những giờ trâu nghỉ đó. Con nhớ ở dưới quê người ta có câu: “Khi trâu tắm ao làng, ta ôn lại vần xuôi…”, nghĩa là chỉ khi đàn trâu nghỉ ngơi thì mình mới có cơ hội ôn lại những gì mình đã học, đã nghe. Người chăn trâu phải biết khi nào trâu mình ăn đã no. Mình phải nhìn cái hông bự của con trâu để biết trâu no hay đói; khi hông trâu còn lõm xuống là trâu chưa no và khi hông trâu đầy tròn lên là trâu đã ăn no. Khi hông trâu chưa đầy mà mình lùa trâu về là thế nào cũng bị rầy vì người ta biết trâu ăn chưa no. Khi giữ trâu mà để trâu ăn lúa là người giữ trâu không có giỏi, vì mình lơ đãng hay ham chơi với hạc quá. Trong thi ca Việt Nam người ta nói nhiều về chăn trâu:

Ai bảo chăn trâu là khổ?

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Có những ngày trốn học đuổi bướm cạnh cầu ao,

Mẹ bắt được, chưa đánh roi nào đã khóc.

Có cô bé ngồi bên cười khúc khích

Mắt đen tròn, thương... thương mãi hay không?

Có bài nữa là:

Chăn trâu đầu đội nón lá che nghiêng

Ngoắc ngoải trên lưng trâu

Tay cầm làn can như roi ngựa ...

Và người chăn trâu rất hạnh phúc khi mình có những bài ca như vậy để ca để hát khi mình nghỉ ngơi. Ở trong con người của mình thường có hai phần. Người Đạo Lão thường rất thích con hạc và họ thường ca ngợi con hạc tại vì họ thích sự vắng vẻ. Cái nón họ đội cũng có hình hạc, cái áo họ mặc cũng có hạc, hạc là con vật tượng trưng cho sự cao quý và vắng vẻ. Còn người tu thiền đạo Bụt thường ví cái tâm mình là con trâu vì con trâu hay chạy phá và nó tìm những đối tượng khác nhau nhiều lắm. Cho nên khi một người đang tu thì người ta gọi đó là người đang chăn trâu, tức là chăn cái tâm của mình đừng cho nó chạy, nó phá; phải hướng con trâu tâm của mình đi cho đúng đường.

Nhưng mình thấy trong người của mình có hai phần, mình vừa có con hạc và vừa có con trâu, chứ không hẳn là mình chỉ thực tập, chỉ chăm con trâu của mình thôi. Mình có thể vừa chăm sóc cho trâu và chăm sóc cho hạc cùng một lúc. Nhưng cái tâm của mình có rất nhiều phần, không phải nó có một con trâu mà nó có cả một bầy trâu. Những giận hờn, trách móc, phiền não là những loại trâu không tốt; chúng chạy loạn và làm cho tâm mình náo động, thì mình phải biết cách, phải có cách để gom chúng lại. Người giữ trâu sẽ chọn con trâu cầm bầy thật giỏi, thật nhanh; còn tâm thức mình, mình dùng cái gì để mình gom, mình giữ những phần chạy hoang chạy loạn đó.

Cái sợi dây mà mình giữ con trâu tâm và mình lái con trâu tâm là chánh niệm. Chánh niệm có thể ôm được những tâm hành đang chạy loạn và đang làm mình giận hờn, buồn bã. Mình phải biết khi nào một tâm hành nó phát khởi lên và chạy ra khỏi phạm vi ôm ấp của chánh niệm và mình phải biết liền, và lúc đó mình tức tốc cởi con trâu chánh niệm của mình để theo nó, nhận diện nó thì tự động những tâm hành chạy loạn sẽ gom lại. Vấn đề còn lại là làm thế nào để mình phát khởi chánh niệm để nó có mặt trong tâm thức của mình kịp thời để mình có cái dụng cụ chăm sóc được đàn trâu lộn xộn trong tâm thức mình. Có một phương cách như thầy Pháp Dung chỉ rõ hồi sáng là đi thiền hành và theo dõi bước chân và hơi thở của mình. Cái đó nó chế tác ra năng lượng chánh niệm, để mình có chánh niệm và mình chăm sóc được cái tâm của mình. Khi một người chăn trâu không có một con trâu giỏi thì không thể có cách nào ven được bầy trâu, và người chăn trâu đôi khi phải chạy rã chân mình luôn mà vẫn không làm gì được. Khi mình muốn chăm sóc tâm thức của mình mà không có chánh niệm thì cũng vậy, mình không có khả năng chăm sóc bầy trâu trong tâm của mình. Cho nên mình phải có thời gian để phát khởi chánh niệm. Người chăn trâu thường lùa bầy trâu của mình ra chỗ đồng trống để nó ăn cỏ và trong thời nó ăn mình có thể nghỉ ngơi. Cũng vậy, tâm hành mình đôi khi chạy theo những đối tượng, đủ thứ đối tượng như bên ngoài cũng như những phần phố thị trong con người mình, thì đó là những đối tượng mà tâm hành của mình nó chạy theo, những giận hờn buồn lo trong lòng mình. Cho nên mình cần phải biết cho tâm thức mình nghỉ ngơi; giống như người chăn trâu, mình phải đưa tâm thức mình đi đến một nơi có không gian để nó có thể nghỉ ngơi và thư giản. Lúc đó chính là lúc mình phát khởi chánh niệm trong tâm của mình và mình có khả năng chăn được bầy trâu và những phần lộn xộn của mình.

 

Khi đến một trung tâm tu học hay là một không gian nào đó mà mình cảm thấy yêu thích, mình thấy tâm mình nó bay nhẹ nhàng thong thả như một con hạc và mình thấy mình không cần làm một cái gì quan trọng hết. Lúc đó tâm thức mình đã có sự buông thư, có sự lắng dịu và mình thưởng thức được sự sống chung quanh mình và đồng thời lúc đó chánh niệm cũng được phát khởi. Cũng giống như khi mình đến một trung tâm tu học như ở đây, mình đã bỏ lại sau lưng những khó khăn lo phiền và công việc của mình. Nhưng khi mới đến đây tâm thức mình chưa lắng xuống liền vì mình còn mang ít nhiều quá khứ trong đầu, và những hình ảnh phố thị vẫn còn chạy theo trong đầu của mình. Cho nên mình phải làm thong thả, đi thong thả và nhẹ nhàng như một con hạc đang bay. Mình đi thiền hành để chế tác chánh niệm trong tâm của mình; mình đi từng bước, từng bước như vậy và để hết lòng mình vào hơi thở và việc tiếp xúc với sự sống chung quanh. Nếu trong tâm mình vẫn còn đôi chút âu lo phiền muộn còn ứ đọng thì cũng đừng quan tâm quá, cứ để cho nó thong thả, nhẹ nhàng rồi nó cũng trôi qua. Mình cứ đi thiền hành thong thả từng bước và theo dõi hơi thở như vậy một lúc thì hơi thở trở nên nhẹ và trong hơn, và mình cảm thấy tâm mình cũng nhẹ và trong hơn. Khi mới bắt đầu thiền hành thì hơi thở nghe nặng nề, trầm đục, nhưng sau một hồi theo dõi hơi thở có ý thức thì hơi thở dần dần trở nên nhẹ nhàng và trong như cánh hạc bay qua. Lúc đó chánh niệm thấm từ từ vào tâm và làm cho người mình buông thư và cái phố thị cũng từ từ lắng xuống. Thơ cụ Nguyễn Du có câu:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời

Mỗi lần mình tới một nơi mình thích như tu viện này mình cũng không cần gặp vị trụ trì hay là cần gặp một thầy nào khác vì trong lòng mình cái quan trọng là cái không gian và cái đó nó làm nên sự tu học và cái phước đức của mình. Công đức của mình nó có là nhờ sự thực tập của mình chứ không phải vì mình gặp thầy trụ trì. Mình phải có cái tính lặng lẽ như con hạc và trầm lắng thì chánh niệm mới dễ phát khởi. Lúc đó mà thầy trụ trì kêu mình vào hỏi xây tháp hoặc quyên tiền làm tâm mình loạn lên, thì uổng cho mình quá. Nhưng đôi lúc mình cũng cần phải gặp thầy trụ trì hay là thầy khác nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Mình tới là để mình hưởng cái không gian của mình. Con thấy trong chúng của mình có một vị rất là giỏi về chuyện đó; đó là chú Thắng. Khi chú tới chú thong thả như con hạc bay và tiếp xúc với cây cối, thằn lằn rắn mối, rồi thấy cái cây nào cần sửa thì mình sửa, thấy thùng rác nó bay thì mình lượm mình để lên, và tất cả việc mình làm đều ở trong chánh niệm. Điều này quan trọng lắm. Mình thường muốn gặp những vị thầy để bàn những chuyện lớn, mình nghĩ là phải làm những việc lớn mới là tu còn việc nhỏ không quan trọng, nhưng chưa chắc đâu!

Hồi đó con có ở một ngôi chùa và tình cờ học được câu trong Kinh Địa Tạng con rất thích: “Có thiện nam tử, thiện nữ nhân, vị nào làm một việc nhỏ như một giọt nước, một sợi lông, một hạt bụi, mà ở trong Phật pháp mà làm thì công đức ấy không thể nghĩ bàn”, có nghĩa là nó rộng lớn không thể nói được, không thể tả được, trong khi đó thì hạt bụi nhỏ, nhỏ lắm. Cho nên khi tâm mình mà yên lặng và làm việc trong chánh niệm, và “ở trong Phật pháp mà làm” nghĩa là ở trong chánh niệm, mình học về Bụt, học Pháp của Bụt, xong mình làm những việc giống như lời Bụt dạy, có nghĩa là ở trong Phật pháp. Thở vào, mình biết mình đang thở vào, thở ra mình biết mình đang thở ra, cái đó là ở trong Phật pháp mà làm. Sư cô Đẳng Nghiêm thường mời năm vị ở lại để giúp sắp bồ đoàn, toạ cụ. Khi mình sắp bồ đoàn, cái tay mình nâng nó lên và đặt xuống trên tọa cụ một cách ngay ngắn và tròn trĩnh, thì mình thấy làm cái này là làm cho chính mình, và mình làm cho mọi người ở đây có hạnh phúc là mình cũng đã có phần trong đó. Mình làm trong chánh niệm thì đó là làm trong Phật pháp rồi đó. Lại cũng như vậy, nếu với cái tâm thức đó mà làm, không có sự so đo ngằn mé phải làm công việc lớn mới có phước đức, thì tuy mình làm cái chuyện nhỏ như hạt bụi, nhưng với cái tâm đó thì nó rộng lớn không thể tưởng tượng được, cho nên nói bất khả thuyết, không thể nói được. Ngược lại nếu không phải trong Phật pháp mà làm thì dù lớn nhỏ gì, phước đức cũng chẳng được bao nhiêu. Ví dụ, nếu mình muốn quyên tiền xây một mái thiền đường cho nó quan trọng hơn, và mình bỏ tiền ra xây mái thiền đường xong mình muốn để tên của mình trên đó để cho mọi người biết cái tên của mình và trong khi đó nếu không ai công nhận cái tên của mình thì mình rất là buồn. Cái đó cũng có phước đức, chắc nó có nhưng cũng bằng cái kẹo hồ lô thôi.

Nhưng người biết ở trong Phật pháp mà làm thì khác hơn nhiều. Nó cũng từ cái gốc ở chánh niệm mà có, khi mình có chánh niệm mình mới làm được những chuyện đó, tại vì với chánh niệm mình biết giúp mình làm những việc đúng với sự sống và những gì đang xảy ra, và mình đang làm với sự sống. Đó là những kỷ niệm sẽ đi theo mình, theo suốt cuộc đời của mình. Con mời đại chúng quán tưởng là mình đang có một người bạn và mình đưa người bạn mình đi ra trạm xe lửa và mình ý thức là người bạn này mình rất quý, không biết chừng nào mình mới gặp lại người bạn của mình. Khi mình đi, cả tâm ý của mình chỉ biết người bạn của mình thôi, và những người đi qua đi lại áo xanh áo đỏ hoặc cái gì khác mình cũng không để ý đến. Khi người bạn lên tàu, mình chờ đến lúc bàn tay mình chào bắt tay bạn, và khi xe chạy xa hun hút rồi thì mắt mình dõi theo thấy xa rồi mình mới trở về. Cái kỷ niệm đó nó đi theo mình cả đời. Nó có được là do niệm. Niệm có nghĩa là tâm mình có ý thức về một hiện tượng nào đó đang xảy ra, và cái ý thức đó nó đem lại cái thấy sâu sắc trong sự sống của mình. Cái đó chính là cái kỷ niệm của mình. Nó có thể dẫn mình đi tới tương lai, và nếu mình có những kỷ niệm đẹp thì tương lai của mình sẽ được vui và đẹp.

Cũng giống như vậy, khi mình đi tới đây thì mình đem cái tâm thức mình hết lòng mình đi trên đất rất là thong thả, thì đó là một chuyện mình làm rất sâu sắc trong lòng của mình, và nó là cái kỷ niệm của mình. Khi ngồi ăn chung với đại chúng, mình cũng hết lòng, như là mình không nói chuyện, mình ngồi cho ngay thẳng, mình để cho tâm thong thả, nghe tiếng chuông thì mình dừng lại để thở, và mình biết trân quý thức ăn như những tặng phẩm của đất trời như mình đã đọc trong năm lời quán nguyện trước khi mình ăn. Ý thức rằng thức ăn không phải tự nhiên mà có, cho nên mình ăn với sự trân quý. Mình đem hết tấm lòng mình ăn một buổi ăn thôi là có một sự sâu xa ở trong lòng, một sự biết ơn. Đó cũng trở thành một quá khứ đẹp, dù là một bữa ăn. Lâu lâu mình mới có cơ hội được ăn chung với mọi người chứ đâu phải lúc nào cũng có. Khi mình đi chung với mọi người thì tâm thức của mình cũng dùng cái đó, dùng cái cách hết lòng giống như là mình đi đưa tiễn một người bạn vậy, tại vì mình biết cái cơ hội này không phải lúc nào mình cũng có. Điều đó giúp mình thấy sự sống rất là gần gũi với mình.

Khi mình thấy có sự sống và có niềm vui thì sự liên hệ giữa mình và người rất gần gũi, và cái khả năng đó làm cho mình tiếp xúc được với người rất dễ dàng; nó làm cho mình có cái tình người. Mình mà xa cách với con người là tại sự sống của mình không có gần gũi với mình nhiều, tức là mình không hiểu nhiều về sự sống. Con người là một phần của sự sống và mình gần với con người nhiều nhất. Mình thường nói mình sống với thiên nhiên, nhưng thật ra mình sống với thiên nhiên được bao nhiêu? Mình về nhà sống với người thân thì nhiều. Cho nên nếu mình nói mình đi tìm thiên nhiên và xa con người là một điều rất là trật, vì con người là một phần của thiên nhiên, và nếu mình không sống, không hòa đồng và hạnh phúc được với con người mà mình nói mình đi tìm thiên nhiên để mà sống là cũng là một điều lạ. Nhưng khi mình tiếp xúc được và mình sống hết lòng với mọi người trong mọi hành xử thì nó mang cho mình một cái thấy sâu sắc ở trong sự sống, mình tiếp xúc với con người rất là dễ và con người đưa đến cho mình nhiều hạnh phúc lắm. Khi có nhiều phiền lo trong con người mình, khi không hiểu được những tâm hành của mình thì những cái như buồn giận nó làm cho mình khổ đau nhiều, cho nên mình nghĩ là con người làm cho mình khổ đau, nhưng cái gốc là tại vì tâm thức của mình không gần, không cảm được sự sống, và không hiểu được sự sống nhiều. Mình có thể rất giỏi về những lãnh vực chuyên môn nào đó, nhưng những tâm hành và những con người sống cạnh bên mình thì mình lại không có thời gian để quan sát và học hỏi, vì thế cho nên mình không hiểu nhiều, và mình có nhiều sự chia cách giữa mình và con người và sự sống. Khi mình có chánh niệm và sống hết lòng, thì từ từ mình có thể ngồi với một người, trò chuyện với một người, một lần hoặc hai lần gì đó, cái lòng của mình mở ra; dù mình không nói gì hết, mình nghe người đó nói, hoặc là mình nói, nhưng nó làm cho cái lòng của mình thoải mái và hạnh phúc lắm. Quý vị làm thử đi. Cái đó mang cho mình niềm vui và mình thấy con người quý với mình lắm. Bản thân con thì con rất cám ơn trong đời sống của con có những người thân mà con rất quý và những người thân đó cũng rất quý con. Cho nên khi mình gặp, mình ngồi, mình uống trà hay là mình trò chuyện gì đó, trong một giây phút nào đó, thì mình thấy tất cả những cái đó là kỷ niệm nó nuôi dưỡng mình và làm cho mình đi tới, không thấy cô đơn.

Có lúc mình xa cách tâm thức của mình, mình không quản thúc được cái giận hờn trong con người của mình. Khi có được chánh niệm và có sự sống thì giống như mình đã có con trâu ven bầy, nó có cái khả năng ven cái giận hờn và mình gom nó lại, khi nó lên mặt ý thức của mình, và mình quản thúc rất dễ. Người chăn trâu, khi có con trâu quậy phá thì họ thường thả một cọng dây dài khoảng chừng mười thước, gọi là “dây dàm”. Cọng dây dàm là cọng dây rút lại và kéo lại. Người chăn trâu biết được con trâu nào thường hay quậy phá và mình phải để ý, để khi nó chạy thì mình chạy theo nắm sợi dây dàm và giựt nó lại. Không phải giựt là nó đứng lại liền mà đôi khi nó mang mình chạy xa lắm, đôi khi mình té xuống nước và mình phải vịn sợi dây đó và nó lôi mình đi rất xa. Người có kinh nghiệm sẽ chùng sợi dây đó lại, xong rồi họ giựt một cái, chùng lại rồi giựt một cái, họ giựt nhiều lần như vậy, cái lỗ mũi của con trâu sẽ đau. Khi mình chùng lại sợi dây dàm, con trâu đang có cái trớn chạy tới thì mình giựt một cái và khi mình giựt năm bảy lần thì nó chùng lại, rồi từ từ mình bắt nó. Thì cũng như vậy, khi mình có cái giận, cái lo cái buồn và mình lấy ý thức chánh niệm để nhận diện và ôm ấp nó thì không phải là nó dừng lại liền mà nó vẫn sẽ chạy, vì nó mạnh trong ý thức mình quá. Lúc đó mình không nên cố gắng nhiếp tâm mình mạnh quá. Chữ nhiếp trong thiền đối với chữ xả. Khi mình biết được đang có một đối tượng tâm hành quá căng thẳng trong mình thì mình nên chỉ để ý đến nó khoảng chừng sáu bảy chục phần trăm thôi. Vì nếu mình cố hết sức ghìm giữ đối tượng lại, nhưng nếu đối tượng đó vẫn tiếp tục chạy thì tự động mình có cái cảm giác như bất lực, và cái tâm nó càng loạn lên. Cho nên mình chỉ cần chạm lên, mình biết được cái giận giữ hay cái buồn phiền đang có mặt, mình chạm vào nó khoảng sáu bảy chục phần trăm thôi, còn 40% hay 30% còn lại mình để cho con người mình thong thả và thoải mái, để tiếp xúc với những điều kiện tốt lành đang có. Trạng thái đó là trạng thái chùng vừa phải và cái tâm mình nó chùng lại từ từ. Có lúc mình nhiếp rất mạnh, nhiếp 100% vô trong cái giận, và mình thấy đây là cái giận rất rõ ràng. Lúc đó chánh niệm của mình rất mạnh, ôm cái giận trọn vẹn và nó lắng xuống ngay. Nhưng khi nó vẫn còn chạy thì mình cứ để nhè nhẹ trên nó thôi, đừng có nhiếp 100%, chỉ 50 hay 60% thôi, còn 50 hay 40% còn lại để cho nó thong thả và cái chánh niệm ôm nó từ từ. Giống như con trâu, nó sẽ ngừng lại từ từ. Quan trọng là ở sự kiên nhẫn.

Xả tức là không giữ, xả tức là không theo 100%, không theo bên nào hết. Lúc xả thì tâm mình thong thả như mình đang lùa trâu ra một đồng trống, không có một đối tượng nào để 51 tâm hành chạy theo. Lúc đó là một khoảng trống và tâm mình thong thả. Khi tâm mình nhiếp được cái đối tượng giận rồi thì từ từ cái giận nó sẽ gom lại, và từ từ nhập lại thành một với tâm hành chánh niệm. Khi có con trâu nó quậy thì mình đem con trâu gom bầy mình gom nó, gom từ từ thì tự nhiên bầy trâu sẽ hợp trở lại. Những cái đó khi nói về tâm thức, đều là chánh niệm hết. Khi mà mình gom cái tâm thức giận hờn, và nó được chánh niệm ôm ấp thì cái giận hờn lắng dịu và nó trở thành năng lượng chánh niệm. Giống như nước và sữa, khi mình mới bỏ vô thì mình thấy có nước có sữa, nhưng nếu quậy một hồi thì nó trở thành một. Nhưng mà nó cũng có thể đi ngược chiều trở lại khi chánh niệm của mình quá yếu và cái giận nó mạnh và mình không gom lại được thì cái niệm từ từ trở thành cái động và cả người mình toàn là giận, cả một cái tâm thức mình là giận hết. Cho nên khi mình thực hành tinh chuyên và ôm ấp được cái giận cái buồn, thì cùng một cách đó mình cũng ôm ấp được tất cả những tâm hành khác như ganh tỵ, ghét thương, v.v. Trong sự thực tập, mình bắt đầu với sự nhận diện đơn thuần, tức là mình thấy cái tâm hành và nhận diện, gọi đúng tên nó khi nó vừa đi lên. Cũng với chánh niệm, mình từ từ ôm ấp nó, thấy được cái tâm mình lắng dịu, thấy được là tất cả toàn là niệm, và khi thấy tất cả chiều sâu của cái sự giận hờn và mình bật được cái nguồn gốc của nó thì gọi là chuyển hóa. Người chăn trâu và người tu thiền cũng giống nhau cho nên trong thiền môn, người ta gọi người tu thiền là người chăn trâu, chăn cái tâm trâu của mình. Thưa đại chúng, khi mình mà chăn trâu không giỏi, khi mình chăm sóc không giỏi và mình để trâu mình ra phá hoại lúa, thóc, khoai sắn, thì lúc đó mình sẽ ra bờ sông mình nằm mình khóc, tại vì trâu mình nó ăn thóc ăn lúa phá hoại không biết phải làm sao. Khi đó mình mới chạy đi tìm một vị mà mình quý trọng, mình than thở, “trâu tui nó phá quá và giờ không biết làm sao, xin ông giúp đỡ” và khi đó mình chắc lưỡi than giống như con thằn lằn, và vái vị đó dạy cách cho mình phải làm gì.

Quý vị có biết tại sao người ta thường nói “than như con thằn lằn” không? Có một câu chuyện như thế này: Có một vị đó rất giàu có, cái gì cũng biết hết, giàu về ý niệm, giàu về kiến thức và giàu về của cải, và cái vị đó tên là ông Hống. Một hôm ông Hống cảm thấy rất hạnh phúc, rất đầy đủ và nói rằng nếu ai có cái gì mà tôi không có thì tôi sẽ đem tất cả những gì tôi có mà cho người đó. Có một người nông dân, rất bình dân, đem tới một cái mẻ kho. Mẻ kho là cái mà nhà nào cũng có, cũ kỹ, ngày nào cũng kho nên nó rất xấu và đen. Ông nhà giàu thì cái gì cũng làm bằng vàng, bằng bạc, bằng i-nốc, bằng đồng chứ làm gì có cái mẻ kho xấu xí như vậy! Ông nhà giàu xem lại tài sản và không thấy có cái mẻ kho nào nên ông ta đem tất cả những gì ông có để tặng cho người nông dân và khen: “Anh có những cái rất đơn giản nhưng lại thiết thực và cần thiết cho đời sống; còn tôi, có nhiều cái tôi cảm thấy nó cao quý nó mầu nhiệm nhưng cái căn bản tôi không có, cho nên những cái gì tôi có tôi sẽ tặng cho anh”. Nhưng khi tặng xong, ông buồn và tiếc vì sự mất mát quá lớn nên vài ngày sau ông chết. Ông chết và đầu thai thành con thằn lằn và lúc nào nó cũng cứ than, cứ chắc lưỡi. Ở quê khi thấy có người hay tự khoe mình giỏi mình hay thì người ta thường phê bình:

Ông Hống còn thiếu mẻ kho

Mày hay là mấy, miệng to làm gì!

Tức là ông Hống, ông hay ông giỏi như vậy nhưng những cái căn bản ông không có, và câu chuyện này rất hay. Nhiều khi mình thấy mình có những cái hay, mình thấy mình rất đầy đủ, mình cảm thấy rất thỏa mãn, nhưng những cái rất căn bản thì mình không có. Giống như một đời sống có chánh niệm để mình ý thức được một sự sống đang gần gũi với mình, và mình “đang là” thì mình lại không biết. Và cái đau khổ và cái khó khăn của mình nó phát xuất từ đó nhiều lắm. Tại vì mình biết những cái xa hơn sự sống mình đang có và mình tự hào với cái mình có, nhưng mà cái căn bản thì mình lại thiếu. Khi mình thấy được người của mình nó yếu kém chỗ nào thì nên bồi đắp phần đó. Bản thân con thuộc loại nông dân nên con quý và học hỏi những cái căn bản, sống gần gũi với mọi vật với thiên nhiên và mình biết mình đang là. Nó giúp mình nhiều lắm, mình đừng có như ông Hống, lúc nào cũng chấp mình giỏi nhưng lại thiếu một mẻ kho, thì mình thành con thằn lằn tội lắm. Nếu mình là người chăn trâu giỏi thì mình sẽ không than như con thằn lằn. Còn nếu mình chăn trâu không xong, nghĩa là học hỏi và điều phục tâm mình không xong để cho những con trâu giận hờn phiền não nó chạy nó phá mùa màng, khoai sắn lung tung thì lúc đó mình phải ra bờ sông mà khóc lóc và chắc lưỡi như con thằn lằn. □

(Nguyên Lâm phiên tả và biên tập)