Dặn Dò

Sư cô Đẳng Nghiêm - Yale Medical School (Nov 2011)

Trong tháng 10 và tháng 11 năm 2011, một nhóm quý thầy và sư cô Làng Mai đã tổ chức một chuyến hoằng pháp “Thức Dậy” (Wake Up) cho người trẻ tại các trường đại học và các cơ quan khác tại miền Đông Hoa Kỳ. Sau đây là bài chia sẻ của sư cô Đẳng Nghiêm với một nhóm sinh viên y khoa, nhân viên điều dưỡng và ban quản trị tại đại học Yale Medical School, trong giảng đường của Thư viện Yale Sterling ngày 03 tháng 11 năm 2011.

Tôi đã tốt nghiệp từ trường Y khoa University of California San Francisco, và tôi đang bắt đầu chuyên trong lãnh vực Y Khoa Gia đình khi tôi đi dự một khóa tu chánh niệm và được gặp thầy của tôi và tăng thân xuất sĩ của Làng Mai. Không lâu sau đó, một sự kiện rất lớn trong đời của tôi đã xảy ra: người bạn thân của tôi chết một cách đột ngột trong một tai nạn. Cái chết của bạn tôi đã đánh thức tôi và giúp tôi quyết định đi theo con đường tâm linh. Tôi đã bỏ ngành y khoa sau 7 năm đào tạo và thực tập. Trong tâm tôi, tôi luôn mong có ngày được trở về lại trường UCSF để chia sẻ những gì tôi đã học được từ sự tu học của mình với các sinh viên y khoa, các bác sĩ và các nhân viên của trường. Tôi chưa có cơ hội để thực hiện hoài vọng này, nhưng khi tôi được biết rằng các bạn của trường Yale sẽ có buổi sinh hoạt với các thầy các sư cô, tôi rất hạnh phúc nhận lời tham dự và đóng góp.

Sau gần 12 năm tu học, tôi thấy rằng tất cả chúng ta đều có thể thực tập chánh niệm ngay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chúng ta không cần phải rời bỏ nghề nghiệp hay chức vụ của mình, dù đó là ngành y khoa, ngành điều dưỡng hay bất kỳ loại công việc nào chúng ta đang có để có thể sống một cuộc sống có chánh niệm. Chánh niệm có thể có mặt trong bất cứ việc gì chúng ta làm. Ví dụ, ngay trước buổi chia sẻ này, tôi đã hướng dẫn các bạn vài động tác chánh niệm. Trong khi đứng lên, tôi đã yêu cầu các bạn thực tập có ý thức là mình đang đứng lên. Trong khi co giản cơ thể, tôi đã yêu cầu các bạn thực tập có ý thức về hơi thở và với mỗi mỗi động tác của thân thể của mình. Mình làm điều gì là mình đều đem ý thức về hơi thở và thân thể của mình để thân tâm được nhất như, thay vì luôn luôn bị chia cách. Khoa học cho chúng ta biết rằng trong quá trình tiến hóa, con người đã phát triển khả năng có ý thức về chính mình trong phần não trước (forebrain) của não bộ. Chúng ta hãy dùng ví dụ của con mèo để hiểu rõ hơn về tiềm năng này. Con mèo rất có ý thức về con chuột và mỗi động tác của con chuột, nhưng con mèo có thể không ý thức nhiều về các chuyển động và những cảm xúc, dự tính và sự hồi hộp phấn khích nó đang có. Ngược lại con người không những có ý thức về những đối tượng bên ngoài, mà còn có khả năng ý thức về chính thân thể cũng như cảm thọ, tư duy và tâm hành của mình. Nhưng tiếc thay, phần đông chúng ta lại chủ yếu dùng bản năng sinh tồn trong cuộc sống hàng ngày và có thể là trong cả cuộc đời của mình. Ví dụ, khi chúng ta ngồi làm việc trên máy điện tử, chúng ta rất có ý thức về những gì đang xảy ra trên màn hình liên tục đến 7 hay 8 giờ, nhưng chúng ta lại quên rằng chúng ta cần đi dùng phòng vệ sinh. Ý thức về nhu cầu này hoàn toàn bị ngăn chận và đè nén. Chúng ta ngồi làm việc hết giờ này sang giờ khác, và nếu trong một tích tắc nào đó tín hiệu “tôi cần đi phòng vệ sinh” châm thủng được ý thức của chúng ta, thì chúng ta lại đè nén ý thức này thêm một hoặc hai tiếng đồng hồ nữa! Chúng ta ngồi làm việc tại máy điện tử, và mọi việc dường như rất yên ổn. Rồi khi chúng ta đi ra ngoài, tiếp xúc với ai đó, và bất thình lình trái bom nổ, chúng ta nói hoặc làm điều gì đó rất bất ngờ hoặc rất thô thiển. Chúng ta không hiều tại sao suốt ngày làm việc thấy rất chăm chú, không có gì bực bội phiền muộn xảy ra. Sao bây giờ lại nóng nảy và giận dữ thế này? Nếu có chánh niệm, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng trong khi làm việc với máy tính, những sự suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta vẫn liên tục phát sinh, nhưng chúng ta đã không ý thức được những suy nghĩ, những cảm xúc của sự buồn phiền, giận dữ và ghen tị, v.v… Chúng gia tăng cường độ, diễn qua, phát lại để lớn mạnh hơn; và cái quá trình tự động này đã thoát khỏi sự nhận thức của chúng ta. Sau đó, khi được một số điều kiện kích hoạt, chúng sẽ biểu hiện thông qua lời nói hoặc hành động của chúng ta một cách gay gắt và bất ngờ. Tuy chúng ta chưa nhận biết, nhưng những tác động của tâm chưa biểu hiện này luôn luôn hiện hữu trong chúng ta.

Cũng giống như khi chúng ta nhìn một làn sóng, chúng ta thường thấy nó lúc nó lên cao nhất hoặc khi nó đã đổ xuống. Cũng vậy, chúng ta thường chỉ nhìn thấy các sự kiện trong cuộc sống ở đỉnh cao, ở đáy hoặc ở hậu quả của nó. Tuy nhiên, một làn sóng không bắt đầu từ đỉnh hoặc từ đáy. Một làn sóng phải hình thành và di chuyển theo đà của nó từ rất xa bên dưới đại dương trong một thời gian dài mới trồi lên khỏi mặt nước. Chánh niệm cho phép chúng ta đi ngược làn sóng để lần lượt thấy được sự hình thành của sóng ở các giai đoạn trước đó. Ví dụ, chúng ta đang rất tức giận, và nếu ai đó nói với chúng ta: “Bạn đang tức giận”, chúng ta có thể la lớn, “Tôi không tức giận!” Và đó chính là đỉnh cao của sự tức giận mà chúng ta không ý thức được. Hoặc khi nhìn thấy hậu quả của những gì chúng ta đã làm hoặc nói, chúng ta có thể thốt lên, “Ồ, Trời ơi, tôi đã làm gì thế này?” Chúng ta có thể thực tập để thừa nhận một cái gì đó đã xảy ra và chúng ta đã làm một việc sai lầm. Với khả năng ý thức về chính mình, chúng ta sẽ học cách nhận diện một cảm xúc khi nó đã biểu hiện đầy đủ, và dù đó là sự tức giận hoặc trầm cảm, chúng ta cũng chỉ cần nhận diện đơn thuần nó như nó đang là. Dần dần đi ngược làn sóng, chúng ta có thể thấy được một cảm xúc phát sinh trong cơ thể như một triệu chứng sinh lý và vật lý – sự căng thẳng cơ bắp, đỏ mặt, nhịp tim đập nhanh, thở nhanh, những suy nghĩ và lời nói vội vã, gấp rút. Chúng ta tiếp tục đi ngược sóng cho đến khi nó đang còn ở dưới mặt nước; khi nó chỉ là một lời nói, một hình ảnh, một mùi vị nào đó đã gây nên phản ứng trong chúng ta. Khi cảm thấy hơi thở như ngưng lại và cơ thể căng cứng, chúng ta biết ngay lập tức là có cái gì đó đang diễn ra. “Thở vào, tôi ý thức rằng có một điều gì đó đang xảy ra, một cảm giác đang phát sinh. Tôi chưa nhận diện được nó là cái gì nhưng tôi biết có điều gì đó đang xảy ra. Thở ra, tôi có mặt ở đây cho bản thân tôi. Tôi lắng nghe em đây. Tôi lắng nghe em đây”.

Chánh niệm cho chúng ta cái khả năng trở nên nhạy cảm hơn với sự hình thành của những cảm xúc, nhưng chúng ta cần phải rèn luyện chính mình để làm điều này. Trong cuộc sống hàng ngày, không phải lúc nào chúng ta cũng giận dữ, thất vọng hay buồn phiền; và chúng ta có thể sử dụng những khoảng thời gian không-cảm-xúc-mạnh này để huấn luyện tâm của mình. Ví dụ trong khi ngồi đây và đang nghe quý thầy và quý sư cô chia sẻ, các bạn có thể làm gì? Các bạn có thể theo dõi hơi thở. Các bạn chỉ cần đơn giản trở về với hơi thở và ý thức sự phồng lên xẹp xuống của ngực. Nhiều người trong chúng ta chỉ thở ở cổ họng hoặc ở vùng ngực, bởi vì sự căng thẳng hàng ngày xung quanh và trong cách suy nghĩ của chúng ta chỉ cho phép chúng ta thở rất cạn ở cổ họng và ở vùng ngực. Thỉnh thoảng, chúng ta có thể cảm thấy bụng của chúng ta phồng lên và xẹp xuống. Đây là khi có sự thư giãn và hơi thở sâu hơn, và điều này thường xảy ra khi chúng ta cảm thấy an toàn thoải mái. Hãy nhận biết bây giờ bạn đang thở chủ yếu ở vùng nào. Lắng nghe và nhận diện hơi thở của bạn trong khi bạn đang lắng nghe tôi nói. Chúng ta cũng có thể làm như vậy những lúc chúng ta đang lắng nghe bệnh nhân. Chúng ta có thể hỏi bệnh nhân và họ đang nói cho chúng ta nghe về triệu chứng căn bệnh. Chúng ta có thể làm gì trong khi một bệnh nhân đang nói? Chúng ta có thể lơ đễnh suy nghĩ về các bệnh nhân khác trong các phòng khác, để rồi sau đó hỏi lại người bệnh nhân đang ngồi trước mặt một câu hỏi mà chúng ta đã hỏi trước đó mười phút. Đôi lúc chúng ta có thể hỏi đến năm lần cùng một câu đã hỏi. Bệnh nhân rất dễ bị tổn thương vì đang bị bệnh và đang ở trong bệnh viện; bây giờ bệnh nhân lại cảm thấy rằng chúng ta không thực sự có mặt cho anh ta hay cô ta. Những cảm nhận tiêu cực này có thể làm tăng thêm sự tổn thương, bệnh tật và sự sợ hãi của người bệnh. Những gì tốt nhất chúng ta có thể làm trong thời điểm này là chỉ đơn giản trở về với hơi thở và thư giãn cơ thể của chúng ta.

Chúng ta hãy thực tập với nhau ngay bây giờ. Trở về với hơi thở, ý thức toàn thân và thư giãn toàn thân. Bất cứ nơi nào chúng ta cảm thấy có sự căng thẳng, chúng ta thở lâu hơn và hướng về phần đó của cơ thể. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng khả năng lắng nghe trở nên sâu sắc hơn bởi vì tâm chúng ta đang có mặt với thân của chúng ta, và vì thế tâm đang an trú trong căn phòng này. Với chánh niệm về hơi thở và về thân thể, chúng ta thực sự có ý thức hơn về những gì đang xảy ra xung quanh chúng ta. Nếu tâm chúng ta bận suy nghĩ đến các bệnh nhân khác ở các phòng kế bên, tâm ta không thể có mặt trong phòng này; và như vậy chúng ta đang lãng phí thời gian của chúng ta và thời gian của bệnh nhân. Chúng ta chưa làm điều gì để giúp bệnh nhân, nhưng chúng ta đã lấy đi sự tin tưởng và niềm hy vọng của bệnh nhân có thể có nơi chúng ta. Chúng ta đã tạo ra một trở ngại lớn trong mối quan hệ giữa chúng ta và bệnh nhân. Những gì tôi đã học được từ sự thực tập của tôi là tầm quan trọng của sự có mặt trong giây phút hiện tại. Giây phút hiện tại là giây phút duy nhất mà chúng ta thực sự có; là giây phút duy nhất mà chúng ta có thể tạo những ảnh hưởng tích cực và sâu sắc cho chính mình và cho người khác. Dù đang làm nghề gì và đang tiếp xúc với ai, dù cho đó là với chính mình, với bệnh nhân, khách hàng, bạn bè hay người lạ; nếu tâm chúng ta thật sự có mặt trong giây phút hiện tại, ý thức về hơi thở và thân thể của chúng ta, chúng ta có thể tiếp xúc rất sâu sắc với những gì đang xảy ra và có những tác động rất kịp thời, sáng suốt và hữu hiệu.

Chúng ta thường chia cắt và phân loại trong cách chúng ta tư duy. Tôi lấy một vấn đề trong bệnh viện làm ví dụ, mặc dù nó có thể áp dụng cho tất cả mọi người và mọi lãnh vực. Chúng ta thường nghĩ rằng bác sĩ, bệnh nhân, và quá trình điều trị của bệnh nhân là hoàn toàn khác biệt. Đạo Bụt gọi đây là cái nhìn “nhị nguyên”. Khi nhìn sâu, chúng ta thấy rằng bác sĩ, bệnh nhân và quá trình điều trị không phải là ba thực thể riêng biệt và cũng không phải là hai thực thể riêng biệt. Người bác sĩ cũng là bệnh nhân; và sự chuyển hóa trị liệu của người bác sĩ có thể ảnh hưởng lên sự chuyển hóa trị liệu của bệnh nhân. Tôi nhớ khi tôi còn là một sinh viên y khoa, tôi phải chữa trị cho một bệnh nhân bị ung thư túi mật đã vào giai đoạn cuối. Chỉ ba tháng sau khi bệnh nhân được chẩn đoán, nhưng sức khoẻ của ông ta đã sa sụt một cách trầm trọng. Bệnh nhân vào khoảng trên 60 tuổi; ông ta tỏ ra rất chán nản và từ chối không chịu ăn. Ông rất thô lỗ và khắc nghiệt đối với các y tá và bác sĩ. Ban đầu, ông không thân thiện gì với tôi, nhưng dần dần, ông trở nên cởi mở hơn. Sau đó, các bác sĩ đã đề nghị một giải pháp tùy ông lựa chọn là giải phẩu để xem ung thư có thể cắt bỏ một cách an toàn hay không. Ông ta đã tỏ ra rất do dự và sợ hãi. Tôi nói với ông rằng tôi ủng hộ ông trong bất cứ quyết định nào, và cuối cùng ông chịu cho mổ. Nhưng thật không may, khi các bác sĩ phẫu thuật vào mổ, họ thấy rằng ung thư đã di căn đến các cơ quan lân cận, và do đó, họ may bụng bệnh nhân lại ngay lập tức. Đêm đó tôi trực, và tôi đã đến thăm bệnh nhân của tôi. Lúc đó vào khoảng 2 giờ sáng và người bệnh chung phòng với ông ta đã ngủ. Phòng rất yên lặng và chỉ còn một ít ánh sáng rọi vào từ hành lang. Tôi ngồi lặng lẽ bên cạnh giường ông và ông ta nói với tôi: “Bác sĩ đã biết đó, tôi không còn hy vọng gì nữa. Nhưng có một điều rất lạ là lúc này tôi lại cảm thấy bình an như chưa bao giờ tôi cảm thấy trước đây.” Tôi chỉ ngồi yên với ông ta, không nói một lời nào.

Trước khi giải phẫu, tôi đã chia sẻ với ông ta về cái chết của bà ngoại tôi. Bà ngoại tôi biết rằng mình sẽ chết, và bà đã rất bình an chấp nhận nó. Bà đã cho gọi tất cả con cháu của bà đến tập họp xung quanh bà. Bà tôi nhắc họ đừng để cho tôi và em trai tôi biết về việc bà qua đời, bởi vì chúng tôi đã ở Hoa Kỳ, và bà không muốn tin tức về cái chết của bà ngoại ảnh hưởng đến sự học hành của chúng tôi. Bà ngoại tôi vẫn tỉnh táo và bình an trong những giờ cuối cùng của cuộc đời mình. Khi tôi nghe tin này sáu tháng sau đó, nó vẫn ảnh hưởng sâu đậm đến tôi. Nó đã thay đổi cách tôi suy nghĩ về cái chết. Khi chúng ta sống đẹp, và khi chúng ta chết đẹp, đó là một món quà cho chính mình, nhưng cũng là một món quà cho những người chứng kiến ​​cuộc sống và cái chết của chúng ta. Đây là món quà lớn nhất mà chúng ta có thể dâng tặng cho những người thương của chúng ta. Tôi đã nói với bệnh nhân của tôi, “Bà ngoại của tôi đã chết một cách bình an và đẹp đẽ. Ông cũng có thể chết đẹp và bình an như thế. Ông có thể nhớ lại tất cả các ân sủng mà ông đã nhận được trong suốt cuộc đời mình và ông có thể phát khởi tâm niệm biết ơn đối với chúng. Ông có thể chết như bà ngoại tôi, biết thời điểm của cái chết và giữ được sự bình an, thanh thản cho đến phút chót”. Đêm đó bệnh nhân của tôi nói với tôi, “Bác sĩ đã biết đó, tôi không còn hy vọng gì nữa. Nhưng có một điều rất lạ là lúc này tôi lại cảm thấy bình an như chưa bao giờ tôi cảm thấy trước đây”. Tôi và bệnh nhân của tôi đã có mặt cho nhau, nắm tay nhau và chấp nhận những gì đang và sẽ xảy ra. Khi ông ta được đưa về nhà, và vì phải dùng morphine để giảm đau nên ông ta trở nên khá bối rối và thô bạo. Vợ của ông rất sợ hãi và đau buồn vì điều này. Tuy nhiên, trong những giờ phút cuối cùng của đời mình, ông đã trở nên rất sáng suốt và tỉnh táo. Bà vợ gọi cho tôi ngày hôm sau và nói với tôi, “Ông ấy đã rất yên tĩnh và an bình. Mặc dù ông không thể nói chuyện với tôi nhưng ông biết rằng tôi đã có mặt, và ông biết tôi là vợ của ông. Và điều này làm tôi rất hạnh phúc. Tôi rất hạnh phúc!” Bà ấy nói, “Tôi rất hạnh phúc” ít nhất là hai lần.

Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng, cho dù chúng ta là bác sĩ, y tá hay giáo sư, khi chúng ta làm bất cứ điều gì cho chính mình, chúng ta đang làm điều đó cho những người khác vì chúng ta không phải là những thực thể riêng biệt. Làm người tu, tôi không thấy tôi đã rời bỏ ngành y. Trong thực tế, chánh niệm là thần dược mà tôi có thể tìm thấy và sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của tôi để chăm sóc bản thân mình, để chuyển hoá và chữa lành những khổ đau trong mình. Và đó cũng là loại linh dược mà tôi có thể hiến tặng cho cuộc đời. Vì vậy, chúng ta không cần phải rời khỏi cuộc sống thường nhật để đi tìm chánh niệm. Chúng ta tu học để cái nhìn nhị nguyên không chia chẻ và cô lập hóa chúng ta – tôi khác với người bạn đời của tôi; công việc hàng ngày khác với nguyện vọng sâu xa của tôi; sự có mặt trước công chúng khác với con người riêng tư của tôi, v.v... Đưa ý thức vào tất cả mọi thứ mà chúng ta làm, mỗi lời chúng ta nói, và tất cả các tư duy chúng ta có; chánh niệm sẽ trở thành linh hồn của chúng ta. Chánh niệm không phải là một lối sống đặc biệt hoặc sang trọng như khi đi nghỉ mát ở Hawaii. Bộ não và mỗi tế bào trong cơ thể của chúng ta đều có khả năng tự ý thức. Chúng ta tu tập để áp dụng, trau dồi và phát triển thêm tiềm năng quý giá này. Bất cứ điều gì chúng ta làm có ý thức thì chúng ta sẽ không phải hối tiếc. Tôi không hối tiếc đã dành 24 năm miệt mài trong các trường học, để cuối cùng trở thành một người xuất sĩ. Không có gì để hối tiếc khi chúng đã làm tất cả mọi thứ mà chúng có thể làm. Chúng ta đem hết tâm huyết mình để làm một cái gì đó, và khi chúng ta chuyển qua làm điều gì khác, chúng ta sẽ không có gì để phải hối tiếc. Đó chỉ là một dịp để chúng ta tiếp tục tìm hiểu thêm về bản thân mình. Trong từng giây phút, tất cả mọi thứ chúng ta làm có thể là một cơ hội tuyệt vời để sống và để khám phá bản thân.

Chúng ta hãy nghe một tiếng chuông. Hãy nhận diện mỗi hơi thở vào và mỗi hơi thở ra của chúng ta. Hãy ý thức về toàn thân của chúng ta, từ đầu đến gót chân, và mỉm cười với mỗi bộ phận. Tại nơi làm việc, chúng ta cũng có thể sử dụng tiếng chuông điện thoại để giúp chúng ta quay trở về với hơi thở và hình hài của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều có nguyện vọng đem lại những thay đổi tốt đẹp hơn cho thế giới này. Chúng ta ai cũng muốn phụng sự. Chúng ta ai cũng muốn yêu thương. Tuy nhiên, rất ít người trong chúng ta có thể thành tựu được hoài bão và tiềm năng tối đa của mình. Đó là bởi vì chúng ta không biết sống đẹp và sâu sắc cho chính mình. Chúng ta thường hay quên mất cái thân thể này và chúng ta chưa hề thực sự biết rằng chúng ta có một hình hài mầu nhiệm. Chúng ta chỉ sử dụng thân thể của chúng ta như một phương tiện để đạt được một cái gì đó cao hơn, nhưng thực sự, hình hài này là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta ai cũng muốn tìm một người nào đó để họ yêu thương chúng ta và một người nào đó để chúng ta yêu thương. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm một cái gì đó bên ngoài bản thân của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta thực tập ý thức cơ thể trong cơ thể, ý thức hơi thở, ý thức các động tác khi đi bộ, khi ăn uống, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, chúng ta sẽ nhận ra rằng cơ thể này là người yêu tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể tìm thấy. Cơ thể này có mặt cho chúng ta 24 giờ một ngày, từ lúc sinh ra (thậm chí trước đó, khi còn nằm trong bụng mẹ) cho đến lúc chúng ta rời bỏ cuộc đời. Cho dù chúng ta ăn uống lành mạnh hay không, cho dù chúng ta nghỉ ngơi đầy đủ hay không, cho dù chúng ta đối xử nhẹ nhàng hay tàn bạo với nó, cơ thể chúng ta sẽ luôn luôn cố gắng để tự chữa lành, để phục hồi năng lượng và để tiếp tục phục vụ chúng ta hết ngày này qua ngày khác. Cơ thể đã tha thứ chúng ta nhiều lần, đã yêu thương chúng ta vô điều kiện; cho đến một ngày nào đó nó không thể làm gì được nữa và bắt đầu suy nhược, bắt đầu bị nhiễm trùng, đau mãn tính, ung thư hoặc mắc bệnh tâm thần.

Khi chúng ta thực tập chánh niệm, chúng ta trở về với hình hài của chúng ta. Chúng ta sẽ nói, “Em của tôi! Tôi biết em đang có đó và tôi rất hạnh phúc. Tôi rất biết ơn em.” Hôm nay, một sư cô và tôi đã lái xe từ New York, và khi chúng tôi đến đây, tôi cảm thấy rất mệt nên tôi nằm xuống và ngủ trong khoảng nửa giờ. Khi tỉnh dậy, tôi uống một ly nước; và bạn có biết tôi đã làm gì nữa không? Tôi hôn bàn tay của tôi ba lần! Đây không phải là một cử chỉ mà tôi làm theo thói quen, nhưng nó đã xảy ra hôm nay. Khi tôi uống nước, tôi tình cờ nhìn vào bàn tay của tôi. Đôi khi da của tôi trông nhăn nheo và khô như nho khô, nhưng hôm nay bàn tay tôi trông mềm mại và sáng bóng. Tôi đã ý thức rằng bàn tay này của tôi sẽ không được lành mạnh như thế này mãi mãi. Trong một vài năm nữa, trong mười năm, hai mươi năm hoặc thậm chí có thể ngày mai, nó sẽ không còn mềm mại và khoẻ mạnh như thế này nữa. Sự ý thức đơn giản này đã giúp tôi thấy rõ giá trị của những gì tôi vẫn còn đang có trong giây phút hiện tại và những gì chúng sẽ trở thành trong tương lai. Khi tôi ý thức rằng hai bàn tay này của tôi sẽ không thể nào lành mạnh và tốt đẹp mãi như thế này, tôi trân quý chúng hơn. Và khi thời gian làm cho nó thay đổi hay biến dạng, tôi cũng sẽ không phải buồn khổ hay nuối tiếc một cách quá đáng. Tuy nhiên, nếu chúng ta không thường xuyên ý thức thân thể này, và chúng ta chỉ yêu chuộng thân thể bằng cách khoác lên nó những y phục thời trang và đồ trang sức quý giá, cho nó tiêu thụ thực phẩm đắt tiền, lái xe hào nhoáng, thì trên thực tế, chúng ta đã không có tình yêu đích thực và sự hiểu biết đối với cơ thể. Nếu không khéo, chúng ta có thể sử dùng hình hài này chỉ để phô trương và thu hút sự chú ý từ bên ngoài. Nếu chúng ta không thật sự ý thức và thương yêu cơ thể của chính mình, khi bệnh tật đến bất ngờ, chúng ta sẽ trở nên hốt hoảng và sợ hãi. Khi nó già nua, chúng ta rơi vào tình trạng quẫn trí. Khi có bệnh ung thư, chúng ta không thể chấp nhận và chỉ muốn lập tức cắt bỏ cơ quan bị ung thư đó ra khỏi cơ thể. Vì chúng ta đã xa lạ với cơ thể này nên khi một cái gì đó nghiêm trọng xảy ra với nó, chúng ta cảm thấy bị đánh úp một cách bất ngờ. Chúng ta sẽ không chấp nhận sự kiện nghiêm trọng đó và chúng ta chối bỏ nó. Trong cuộc sống hàng ngày, nếu chúng ta có thể hôn đôi bàn tay mình tức là chúng ta tiếp xúc được với tình yêu đích thực. Nếu chúng ta có thể ý thức được các hơi thở và các bước chân là chúng ta đang thực tập tình yêu đích thực.

Chỉ khi nào chúng ta chế tác và tiếp xúc được với tình thương trong những sinh hoạt đơn giản như vậy trong cuộc sống hàng ngày – và kinh nghiệm nhiều lần trong một ngày – chúng ta mới có thể học hỏi để thực sự có mặt cho người khác, và để thực sự yêu thương một người – dù đó là một bệnh nhân hay một người thân. Nếu không, chúng ta bận rộn làm nhiều việc nhưng cũng chỉ để khỏa lấp một khoảng trống bên trong. Chúng ta cần một ai đó để nói chuyện bởi vì chúng ta đang cô đơn, chứ không phải vì chúng ta muốn chia sẻ hay hiến tặng điều gì. Ngay cả đối với những bệnh nhân, chúng ta chỉ có thể viết các đơn thuốc, và họ có thể không dùng thuốc đó bởi vì chính họ cũng không có mặt được cho họ. Làm sao một bệnh nhân có thể nhớ dùng thuốc theo một lịch trình thường xuyên, khi tâm trí và đời sống của họ đang bị xáo trộn và không được ổn định? Vì vậy cho nên người bác sĩ trước hết phải thấy được rằng mình cũng là người bệnh, tìm hiểu căn bệnh của mình để chăm sóc và thương yêu hình hài năm uẩn của chính mình. Nền tảng của sự trị liệu là sự có mặt thật sự của chúng ta cho chính bản thân và từ tình yêu đích thực này, chúng ta có thể thực sự phục vụ và hiến tặng cho người khác.

 

(Nguyên Lâm phiên tả và chuyển ngữ - Sc Đẳng Nghiêm hiệu đính)