• Về chúng tôi
    • Tổng Quan Về Chúng Tôi
    • Thích Nhất Hạnh
    • Gặp Gỡ Cộng Đồng Của Chúng Tôi
    • Cơ Hội Việc Làm
    • Tin tức
  • Học & Nghe
    • Tổng quan về Học & Nghe
    • Truyền thông & Tài nguyên
    • Thư viện
    • Sáng tạo
    • Khóa Học Trực Tuyến
  • Chánh niệm
    • Tổng quan về Chánh niệm
    • Nền Tảng của Chánh Niệm
    • Sống Tỉnh Thức
    • Chánh Niệm Thấu Hiểu Chấn Thương
    • Thiền Có Hướng Dẫn
  • Cộng đồng
    • Tham Gia Cộng Đồng Của Chúng Tôi
    • Sáng kiến
    • Nhật ký
    • Bắt đầu một Sangha
    • Thức Dậy (18-35)
    • Trở thành một Tu sĩ
    • Dòng Tiếp Hiện (OI)
    • Cộng đồng BIPOC Sanghas
    • Cộng đồng LGBTQIA+
  • Ghé thăm
    • Tổng quan Chuyến thăm
    • Sự kiện
    • Các hình thức thăm viếng
    • Đăng ký Tham gia Khóa Tu
    • Tình nguyện viên
    • Liên Hệ Chúng Tôi
  • Hiệu sách
    • Tổng quan
    • Mua sắm trực tuyến
  • Quyên góp
  • Về chúng tôi
    • Tổng Quan Về Chúng Tôi
    • Thích Nhất Hạnh
    • Gặp Gỡ Cộng Đồng Của Chúng Tôi
    • Cơ Hội Việc Làm
    • Tin tức
  • Học & Nghe
    • Tổng quan về Học & Nghe
    • Truyền thông & Tài nguyên
    • Thư viện
    • Sáng tạo
    • Khóa Học Trực Tuyến
  • Chánh niệm
    • Tổng quan về Chánh niệm
    • Nền Tảng của Chánh Niệm
    • Sống Tỉnh Thức
    • Chánh Niệm Thấu Hiểu Chấn Thương
    • Thiền Có Hướng Dẫn
  • Cộng đồng
    • Tham Gia Cộng Đồng Của Chúng Tôi
    • Sáng kiến
    • Nhật ký
    • Bắt đầu một Sangha
    • Thức Dậy (18-35)
    • Trở thành một Tu sĩ
    • Dòng Tiếp Hiện (OI)
    • Cộng đồng BIPOC Sanghas
    • Cộng đồng LGBTQIA+
  • Ghé thăm
    • Tổng quan Chuyến thăm
    • Sự kiện
    • Các hình thức thăm viếng
    • Đăng ký Tham gia Khóa Tu
    • Tình nguyện viên
    • Liên Hệ Chúng Tôi
  • Hiệu sách
    • Tổng quan
    • Mua sắm trực tuyến
  • Quyên góp
  1. Trang chủ
  2. Về Chúng Tôi
  3. Thích Nhất Hạnh
  4. Thích Nhất Hạnh: Chương Hai
  • Thích Nhất Hạnh
  • Thích Nhất Hạnh: Chương Hai
  • Thích Nhất Hạnh: Chương Ba
  • Thích Nhất Hạnh: Chương Bốn

Nhận Ra Con Đường 

Năm 1961, Thầy nhận học bổng Fulbright và sang Hoa Kỳ để học ngành Tôn giáo tỷ giảo tại Chủng viện Thần học Princeton trong hai năm 1961–1962.

    • Về Chúng Tôi
    • Học & Nghe
    • Chánh niệm
    • Cộng đồng
    • Lên Kế Hoạch Cho Chuyến Thăm Của Bạn
    • Khóa Học Trực Tuyến
    • Nhật ký
    • Dấu chân Coyote
    • Hiệu sách
  • SÁNG KIẾN
    • Bảo tàng Thích Nhất Hạnh
    • Trường Liên Hiện của Thích Nhất Hạnh
    • Phim Sư Cô Chân Không
    • Nông Trại Hạnh Phúc
  • Xuất bản
    • Hồ Sơ Núi Ẩn
    • Chuông Chánh Niệm
    • Ứng dụng Làng Mai
    • Podcasts
  • Quyên góp
    • Liên Hệ Chúng Tôi

Trung tâm Thực hành Làng Mai

  • Tu Viện Bích Nham

    3 Mindfulness Road
    Pine Bush, NY 12566
    Hoa Kỳ

  • Tu Viện Lộc Uyển

    2499 Melru Lane
    Escondido, CA 92026
    Hoa Kỳ

  • Tu Viện Magnolia Grove

    123 Towles Rd 
    Batesville, MS 38606 
    Hoa Kỳ

  • Stream of Compassion Mindfulness Practice Centre

    670 CONCESSION 20 W, Tiny, ON L9M 0H6, Canada

  • Trung tâm Chữa lành Houston

    21423 Farm to Market 2920
    Hockley, TX 77447
    Hoa Kỳ

  • Làng Mận

    437 Chemin du Pey
    
24240 Thénac
    Pháp

  • Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu
  • Tu Viện Suối Chữa Lành
  • Nhà của Cảm hứng
  • Làng Mận Thái Lan
  • Viện Phật học Ứng dụng Châu Á
  • Tu Viện Stream Entering
  • Tu Viện Suối Núi
  • Chính Sách Bảo Mật
  • Điều khoản & Điều kiện
  • Thời thơ ấu & Tuổi thiếu niên
  • Những năm đầu tu học
  • Tạo dựng một Phật giáo Đổi mới và Gắn kết
  • Thành lập một Cộng đồng thử nghiệm
  • Có được Niềm Hy Vọng Mới Sau Những Thử Thách Khó Khăn
  • Theo học tại Princeton & Columbia và Mở ra một hướng đi mới
  • Tham gia Phong trào Hòa bình & Công tác Xã hội Phật giáo
  • Tình bạn, tình huynh đệ với Tiến sĩ Martin Luther King, Jr.
  • Rời Việt Nam để Kêu Gọi Hòa Bình
  • Tham gia vào các cuộc đàm phán Hòa bình Paris
  • Viết về Phép Màu của Chánh Niệm
  • Đối mặt với những thách thức mới
  • Các Cộng Đồng Tiên Phong về Chánh Niệm và Hòa Bình
  • Phát triển Tương Tức
  • Đâm Sâu Rễ và Vươn Xa Cành
  • Tạo Ra Một Cách Thực Hành Chánh Niệm Mới
  • Trở về Việt Nam
  • Trở thành một Nhà Lãnh đạo Tâm linh Toàn cầu
  • Biến đổi Phật giáo ở phương Đông
  • Không Đến, Không Đi
  • Tiếp tục Công việc
NHẬN RA CON ĐƯỜNG CỦA MÌNH
  • Theo học tại Princeton & Columbia và Mở ra một hướng đi mới
  • Tham gia Phong trào Hòa bình & Công tác Xã hội Phật giáo
  • Tình bạn, tình huynh đệ với Tiến sĩ Martin Luther King, Jr.
  • Rời Việt Nam để Kêu Gọi Hòa Bình
  • Tham gia vào các cuộc đàm phán Hòa bình Paris
  • Viết về Phép Màu của Chánh Niệm
Tnh young

Princeton & Columbia

Chính tại Princeton, Thầy đã trải nghiệm mùa thu đầu tiên, những trận tuyết đầu tiên, và vẻ đẹp tươi mới của mùa xuân sau mùa đông. Trong sự tĩnh lặng và bình yên, những hiểu biết nơi Thầy có cơ hội chín muồi: “Chính tại đó, lần đầu tiên tôi thực sự nếm trải sự an lạc của việc an trú hạnh phúc trong hiện tại” (giáo lý cổ xưa của Phật giáo về dṛṣṭadharmasukhavihāra).

Sau này, Thầy đã hồi tưởng về những năm tháng hình thành ở Hoa Kỳ: “Tôi lớn lên và xuất gia tại Việt Nam. Tôi đã học hỏi  và tu tập theo đạo Bụt ở Việt Nam. Trước khi sang phương Tây, tôi đã giảng dạy cho nhiều thế hệ tăng sinh ở Việt Nam. Nhưng giờ đây tôi có thể nói rằng, tôi đã chứng đạo ở phương Tây.”

Vào mùa hè năm 1962, khi hướng dẫn các bạn trẻ tại Trại Ockanickon ở Medford, New Jersey, Thầy đã ghi lại những “nụ hoa đầu tiên của sự giác ngộ” trong cuốn A Rose for Your Pocket - Bông hồng cài áo. Đây là một tập sách nhỏ, giản dị và trữ tình, tôn vinh tình mẹ, khơi gợi nơi người đọc niềm cảm hứng biết trân quý những gì mình đang có trong giây phút hiện tại.

Thầy đã gửi A Rose for Your Pocket -Bông hồng cài áo cho Cô Nhiên, một trong những học trò “cây tùng” của Thầy ở Việt Nam, và cô đã sắp xếp để tác phẩm được xuất bản ngay. Lần đầu tiên, nó được in bằng tiếng Việt trên tạp chí Phật giáo Hoa Sen năm 1962, dưới bút danh của Thầy, với nhan đề Nhìn kỹ Mẹ. Sau đó, năm 1964, đây cũng là một trong những cuốn sách đầu tiên do Nhà xuất bản Lá Bối ấn hành. Năm 1965, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ thành ca khúc và trình bày như một bài hát hiện đại của Việt Nam.

Thông tin trong phần này được trích từ các cuốn sách của  thầy Thích Nhất Hạnh Fragrant Palm Leaves  - Nẻo về của ý (1999) và At Home in the World (2016).


Khám Phá Những Chân Trời Mới

Tinh thần và cách tiếp cận của A Rose for Your Pocket - Bông hồng cài áo đã mở ra một lối đi hoàn toàn mới trong văn học Phật giáo, đồng thời kết tinh phong cách viết đặc trưng của Thầy. Trước đó chưa từng có một cuốn sách tiếng Việt nào diễn đạt một cách trữ tình những tuệ giác Phật giáo trong cái nhìn tâm linh về đời sống hằng ngày, và tác phẩm đã nhanh chóng trở thành sách bán chạy. Được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên, thơ mộng mà ngay cả trẻ em cũng có thể hiểu, A Rose for Your Pocket - Bông hồng cài áo không mang hình thức của một bài giảng Pháp, nhưng thực chất là một bài thiền quán, mời gọi người đọc chạm tới sự mầu nhiệm của sự hiện diện của Mẹ trong giây phút hiện tại.

Lần đầu tiên, một vị sư Phật giáo chỉ ra rằng chánh niệm thiền tập có thể là một nguồn năng lượng tươi sáng và dịu dàng. Người đọc có thể nếm trải trái ngọt của thiền mà không cần biến tâm trí thành chiến trường để chống lại giận dữ, khổ đau hay ham muốn. Với sự ra đời của tác phẩm, Thầy, trước đó vốn được biết đến như một nhà thơ, biên tập viên và học giả Phật giáo đã trở nên nổi tiếng bởi giáo pháp sâu sắc mà gần gũi. Vào lễ vu lan năm ấy, các học trò của Thầy đã tổ chức “Bông hồng cài áo” để tôn vinh tình mẫu tử, lấy cảm hứng từ cuốn sách.

Các học trò của Thầy - các “cây tùng” đã tổ chức chép tay 200 bản cho lễ "bông hồng cài áo" đầu tiên. Mỗi bản đều được gắn một bông hồng đỏ hay hồng trắng, tùy theo mẹ của người nhận còn sống hay đã qua đời. Buổi lễ nhanh chóng trở thành một truyền thống hằng năm trên khắp Việt Nam, và cho đến nay đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Phật giáo của đất nước. A Rose for Your Pocket - Bông hồng cài áo đã bán được hơn một triệu bản và hiện diện trong hầu hết mọi gia đình Phật tử. Với giọng văn tươi mới và gần gũi, tác phẩm đã chạm đến trái tim của người Phật tử Việt Nam và mở ra một thể loại mới trong văn học Phật giáo hiện đại, được đón nhận cả ở phương Đông lẫn phương Tây.


Sau khi hoàn thành năm học tại Princeton, Thầy ở lại Hoa Kỳ và tiếp tục nghiên cứu tại Đại học Columbia từ năm 1962 đến 1963. Tại đây, Thầy đã tận dụng tối đa bộ sưu tập Phật học phong phú của Thư viện Butler, đồng thời nhận được sự hướng dẫn từ Giáo sư Anton Zigmund-Cerbu, cũng như tiếp cận với các tác phẩm của những nhà thần học đương đại. Giáo sư Zigmund-Cerbu là một chuyên gia về Phật giáo, và được cho là đã thông thạo 40 ngôn ngữ. Lớn hơn Thầy mười tuổi, Giáo sư Cerbu qua đời sau khi trải qua phẫu thuật tim chỉ vài tháng sau khi Thầy trở về Việt Nam.

Nửa thế kỷ sau, vào năm 2017, Học viện Thần học Union thuộc Đại học Columbia đã thành lập chương trình “Thạc sĩ Thích Nhất Hạnh về Phật giáo Dấn thân” để vinh danh Thầy.

Vào tháng 11 và tháng 12 năm 1962, Thầy đã trải qua một loạt đột phá tâm linh sâu sắc. Thầy vô cùng xúc động trước các tác phẩm của Dietrich Bonhoeffer, một mục sư và nhà thần học người Đức, người công khai phản đối chế độ Quốc xã, và đã bị giam cầm rồi xử tử vào năm 1945.

Khi đọc câu chuyện của Bonhoeffer về quyết định trở về Đức từ Hoa Kỳ, dù biết rằng điều đó đặt mạng sống vào hiểm nguy, Thầy đã xúc động sâu sắc trước lời ông mô tả về những ngày cuối cùng trong tù: “Đầu hôm tôi thức để đọc Bonhoeffer và giai đoạn chót của đời chàng đã giúp tôi làm bừng tỉnh dậy cái bầu trời đầy sao sáng sẵn có trong tâm linh mỗi người. Tôi bỗng thấy sung sướng lạ kỳ và có cảm nghĩ rõ rệt rằng tôi có thể chịu đựng được những đau khổ lớn lao nhất mà thường ngày tôi không thể hoặc chưa thể chịu đựng nổi.

Bonhoeffer chỉ là một giọt nước cuối cùng làm tràn chén nước, một nhân duyên cuối cùng, một làn gió nhẹ thổi tới cho trái cây chín muồi rụng xuống. Được sống trọn một đêm như thế thì ta không nên than trách chi hết nữa về cuộc đời.

Can đảm và nghị lực dâng tràn, ta thấy óc và tim ta là những đóa hoa; những cảm xúc, những rung động, những đau khổ của chúng ta đều hiện hữu một cách rất mầu nhiệm, tuy ta biết rằng hình hài ta vẫn là hình hài của chính ta.

Sự sống đã mầu nhiệm mà khổ đau cũng mầu nhiệm. Cuộc đời sẽ xấu xí, sẽ đen tối và sẽ không thể có, nếu không có khổ đau.”

Câu chuyện về sự quan tâm của Thầy đối với các tác phẩm của Dietrich Bonhoeffer được trích từ cuốn Fragrant Palm Leaves -Nẻo về của ý  (1999). Bonhoeffer đã từng cân nhắc việc tị nạn ở Mỹ, nhưng sớm nhận ra: “Tôi sẽ không có quyền tham gia vào việc tái thiết đời sống Cơ Đốc ở Đức sau chiến tranh nếu tôi không cùng chia sẻ những thử thách của thời điểm này với đồng bào mình.” Ông cũng phê phán phản ứng của Giáo hội trước tình hình: “Giáo hội đã im lặng khi lẽ ra phải lên tiếng, vì máu của người vô tội đang kêu gào lên trời.” (Trích trong Franklin Sherman, “Dietrich Bonhoeffer,” Bách khoa toàn thư Britannica [2019]).


Phát ngôn cho Phong trào Hòa bình Phật giáo tại Việt Nam

Vào năm 1963, trong lễ hội Vesak mùa xuân hằng năm, sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm đã leo thang nghiêm trọng. Vào ngày 8 tháng 10 năm 1963, đúng vào ngày Liên Hợp Quốc tổ chức phiên tranh luận về việc Tổng thống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, Thầy đã nộp bản tài liệu của mình.

Tại Hoa Kỳ, Thầy trở thành một tiếng nói tích cực cho phong trào hòa bình Phật giáo ở quê hương. Thầy thuyết trình, trả lời phỏng vấn trên nhiều phương tiện truyền thông, và gửi một báo cáo lên Liên Hợp Quốc về các vi phạm nhân quyền. Thầy biết tin về việc tự thiêu của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Đức từ bài báo “Man Sets Himself Afire” (Người hiến thân trong lửa) đăng trên The New York Times số ra ngày 1 tháng 7 năm 1969. Khi ấy, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã 73 tuổi.

Thầy vốn quen biết và từng ở cùng Ngài tại Nha Trang và Sài Gòn. Sau này Thầy chia sẻ: “Khi bạn tự tử, [là vì] bạn đang tuyệt vọng, bạn không thể chịu đựng được nữa. Nhưng Hòa thượng Quảng Đức không như vậy. Ngài muốn sống. Ngài muốn bạn bè và các loài chúng sinh khác được sống; Ngài yêu cuộc sống. Nhưng Ngài đủ tự do để hiến tặng thân thể mình, để gửi đi thông điệp rằng: chúng ta đang đau khổ, chúng ta cần sự giúp đỡ của các bạn.”

Không lâu sau, Thầy nhận được tin về sự tự thiêu của nhiều thầy và sư cô khác nữa vào tháng 8 năm 1963: thầy Nguyên Hương, thầy Thanh Tuệ, sư cô Diệu Quang, và thầy Tiêu Diêu. Bài thơ của Thầy “Lửa đốt em tôi”, in trong tập "Hãy gọi đúng tên tôi" (1993), đã bộc lộ nỗi đau xé lòng và quyết tâm kiên định của Thầy tiếp tục con đường làm việc vì hòa bình.

...Lửa đốt em tôi

Ôi là da là thịt

Em có đau không ? nước mắt tôi không đủ

Để tưới lên, mát dịu hồn bé nhỏ linh thiêng

Tôi còn đây, thương tích dẫu nặng nề,

Mang nguyện lớn chuyển trao về thế hệ.

Tôi còn đây, chúng tôi hứa chẳng bao giờ phản bội.

Em nghe không ? – chẳng bao giờ phản bội,

Vì tim em đã hóa trái tim tôi.

Mô tả của Thầy về Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Đức được trích từ bài Pháp thoại tại Làng Mai ngày 7 tháng 6 năm 2002.


Chở che và nâng đỡ các vị xuất sĩ giữa hiểm nguy

Vào tháng 8 năm 1963, hơn một nghìn nhà sư Phật giáo đã bị bắt giam, và hàng trăm người khác thì “biến mất.” Thầy đã gửi các tài liệu về sự đàn áp lên Liên Hợp Quốc, tổ chức một cuộc họp báo, và bắt đầu tuyệt thực để cầu nguyện cho việc Liên Hợp Quốc cử một phái đoàn sang Việt Nam điều tra thực địa.

Sau khi chế độ Diệm sụp đổ vào tháng 11 năm 1963, Thầy nhận được một bức điện từ thầy Thích Trí Quang, một trong những vị lãnh đạo Phật giáo hàng đầu tại Việt Nam, kêu gọi Thầy trở lại Sài Gòn để tiếp tục hỗ trợ phong trào Phật giáo và cùng đối phó với tình hình ngày càng tồi tệ. Thầy Thích Trí Quang đã gửi cho Thầy một bức điện tín, và sau đó là một bức thư với lời khẩn thiết: “Tôi đã kiệt sức và không còn biết phải làm gì nữa. Xin hãy trở về và giúp đỡ.”

Câu chuyện về các nhà sư bị bắt và “biến mất” được trích từ cuốn Learning True Love (ấn bản 2007) của Sư cô Chân Không.


Lãnh đạo Phong trào Hòa bình và Công tác Xã hội Phật giáo

Trở về Việt Nam vào tháng 1 năm 1964, Thầy đảm nhận vai trò lãnh đạo trong phong trào Phật giáo vì hòa bình và công tác xã hội. Phong trào kháng cự bất bạo động này được gọi là “Lực lượng Thứ Ba” trong chính trị Việt Nam thời bấy giờ.

Thầy đã gặp gỡ các nhà lãnh đạo Phật giáo và sinh viên để lắng nghe báo cáo của họ, đồng thời đưa ra hai đề xuất cụ thể cho các nhân viên xã hội và nhà hoạt động trẻ: thứ nhất, mỗi tuần dành hẳn một ngày trọn vẹn để cùng nhau đến chùa Trúc Lâm tu tập, tĩnh lặng thân tâm và thảo luận kế hoạch hành động; thứ hai, thiết lập một làng thí điểm (còn gọi là làng tự nguyện hay làng tình thương) nhằm tái thiết và phát triển nông thôn.

Thỏa lòng sau chuyến về thăm Phương Bối, Thầy lại có một buổi họp với các thầy trong Hội đồng Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN)[91] và đưa ra ba điểm kiến nghị cụ thể để cộng đồng Phật giáo có thể góp phần vào việc chấm dứt tình trạng chia rẽ và bạo động trên đất nước:

1. Giáo hội nên đứng lên kêu gọi anh em miền Nam và miền Bắc Việt Nam ngồi lại tìm giải pháp chung để chấm dứt chiến tranh cốt nhục tương tàn.

2. Giáo hội nên cấp thiết thành lập một Viện Cao đẳng Phật học để xây dựng lớp trí thức mới, có tu có học rành mạch những điều Phật dạy hầu hướng dẫn đất nước đi về hướng đại trí đại bi, khoan dung, và biết lắng nghe tiếng nói của toàn dân.

3. Giáo hội nên xây dựng ngay một trung tâm đào tạo tác viên xã hội để về các vùng nông thôn giúp người nghèo – những người thiếu ăn, thiếu học, chưa biết cách tổ chức làng xã – nhằm thúc đẩy việc thay đổi xã hội một cách bất bạo động, dựa trên giáo lý của Bụt.

Những năm tiếp theo là giai đoạn Thầy hoạt động và tham gia tích cực, truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ qua giảng dạy, viết lách, xây dựng cộng đồng và khơi mở một tầm nhìn mới về phục vụ xã hội.

Trận lũ lớn tháng 11 năm 1964 ở miền Trung Việt Nam đã cuốn trôi nhà cửa và cướp đi hàng ngàn sinh mạng. Những nạn nhân trong các vùng xung đột là những người dễ bị tổn thương nhất, vì không ai dám mang viện trợ đến cho họ. Thầy, cùng anh Nhất Trí và chị Phượng, đã tổ chức thuyền bè và đi ngược dòng sông Thu Bồn giữa làn đạn để phân phát viện trợ ở khu vực Đức Dục, tỉnh Quảng Nam. Họ đã gặp những đứa trẻ chảy máu vì vết thương đạn bắn, những thanh niên suy dinh dưỡng, và những người cha mất cả gia đình trong cơn lũ. Trong một cử chỉ chan chứa từ bi và đoàn kết, Thầy đã cắt ngón tay để máu nhỏ xuống dòng sông, như một lời cầu nguyện cho tất cả những người đã thiệt mạng.

Đến tháng 6 năm 1965, quân đội nắm quyền kiểm soát chính phủ; bạo lực và áp bức leo thang. “Các quyền tự do dân sự bị hạn chế, các đối thủ chính trị, bị cáo buộc là trung lập hoặc thân cộngbị bỏ tù, và các đảng phái chính trị chỉ được phép hoạt động nếu họ không công khai chỉ trích chính sách của chính phủ.”

Trong khi đó, lực lượng du kích vẫn tiếp tục đấu tranh. Thầy tiếp tục sáng tác những bài thơ hòa bình mạnh mẽ và sâu sắc, khắc họa nỗi đau thương của nhân dân. Tập thơ Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện được xuất bản vào năm 1965; hơn 3.000 bản đã được bán chỉ trong hai tuần đầu tiên. Không lâu sau, những bài thơ này bị lên án trên đài phát thanh là “thơ phản chiến” bởi cả hai phía, khiến sự an toàn của Thầy bị đe dọa. Nhưng Thầy chưa bao giờ coi chúng là “thơ phản chiến,” bởi, như Thầy nói, chúng không ‘phản’ bất cứ điều gì; chúng chỉ đơn giản là “thơ hòa bình.” Tuy vậy, các bài thơ ấy vẫn tiếp tục được lưu truyền bí mật và trở thành những bài hát hòa bình quen thuộc, vang lên trên đường phố và trong các cuộc họp sinh viên.

Thông tin trong phần này được trích từ các cuốn sách của Thích Nhất Hạnh Call Me By My True Names- Hãy gọi đúng tên tôi (1999) và Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (1965) cũng như “The two Vietnams (1954–65)” của William S. Turley, Neil L. Jamieson và những người khác, Encyclopaedia Britannica.


Năm 1965, lo ngại rằng phe Cộng sản đang giành được ưu thế, Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson đã điều những đơn vị chiến đấu đầu tiên đến Việt Nam.


Tình Huynh Đệ: Tình Bạn với Tiến sĩ Martin Luther King, Jr.

Đến mùa hè năm 1965, đã có hơn 125.000 binh sĩ Hoa Kỳ hiện diện trên chiến trường Việt Nam. Trước tình hình đó, Thầy cùng nhiều trí thức hàng đầu tại Việt Nam quyết định tìm đến sự yểm trợ của các nhà lãnh đạo tinh thần và nhân quyền nổi tiếng để góp phần thay đổi dư luận ở phương Tây. Vào tháng 6 năm 1965, Thầy viết thư cho Tiến sĩ Martin Luther King, Jr.; Hồ Hữu Tường viết thư cho Jean-Paul Sartre; Tâm Ích viết thư cho André Malraux; Bùi Giáng viết thư cho René Char; và Phạm Công Thiện viết thư cho Henry Miller. Các bức thư này được in trong tập Đối thoại (1965), xuất bản bằng tiếng Anh bởi Nhà xuất bản Lá Bối.

Ở phương Tây lúc bấy giờ còn nhiều hiểu lầm về những hình ảnh gây chấn động của các vụ tự thiêu. Bức thư của Thầy gửi Tiến sĩ King đã giải thích lòng từ bi phía sau những cuộc tự thiêu của các vị xuất sĩ Phật giáo, và viết: “Không ai ở đây muốn chiến tranh. Vậy thì chiến tranh là để làm gì? Và chiến tranh là của ai? […] Tôi tin chắc rằng, vì ông đã tham gia một trong những cuộc đấu tranh gian nan nhất cho bình đẳng và nhân quyền, ông là một trong những người có thể thấu hiểu và chia sẻ tận đáy lòng nỗi khổ đau khôn tả của nhân dân Việt Nam. Những nhà nhân đạo vĩ đại nhất thế giới sẽ không thể im lặng. Và chính ông cũng không thể im lặng.”

Một năm sau, khi Thầy và Tiến sĩ King gặp nhau tại Chicago, Tiến sĩ King đã trở thành thành viên của Ủy ban Lương tâm Quốc tế về Việt Nam.

Đến tháng 9 năm 1965, Thầy cùng các cộng sự chính thức thành lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Tập hợp hàng ngàn sinh viên tình nguyện, TNHSXH đã tạo ra một cơ cấu chính thức cho hoạt động xã hội dấn thân mà Thầy và “mười ba cây tùng” cùng các đồng sự khởi xướng. Đây là một tổ chức cứu trợ cơ sở, trung lập về chính trị, vừa đào tạo thanh niên những kỹ năng thực tế và sự kiên cường tinh thần, vừa đưa họ đến các làng bị bom đạn và những cộng đồng nghèo khó, để mở trường học, lập trạm y tế, tái định cư gia đình mất nhà cửa và tổ chức hợp tác xã nông nghiệp.

Chú thích: School of Youth for Social Service (SYSS) trong tiếng Việt là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNHSXH). Xem tờ rơi về các hoạt động của họ.

Các sinh viên ấy, được khơi dậy bởi lý tưởng phụng sự, giống như các thành viên Peace Corps ở phương Tây, đã tình nguyện toàn thời gian phục vụ trong các làng quê, không nhận thu nhập. Nhưng công việc xã hội của họ diễn ra trong bối cảnh đầy ngờ vực, hận thù, sợ hãi và bạo lực. Nguy hiểm có thể ập đến từ bất kỳ phía nào, bất cứ lúc nào. Bạn bè của Thầy bị bắt giữ, các nhân viên xã hội bị đe dọa, và súng đạn luôn rình rập chung quanh.

“Nếu không có sự thực tập tâm linh, bạn không thể nào tồn tại,” Thầy giải thích. “Phật giáo dấn thân đã ra đời trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy, khi bạn vừa muốn duy trì sự thực tập của mình, vừa muốn chăm sóc nỗi khổ đau. Bạn tìm cách thực tập thiền hành ngay tại nơi mà con người vẫn đang chạy dưới bom đạn. Và bạn học cách thở chánh niệm trong khi băng bó, chăm sóc một đứa trẻ bị thương bởi bom đạn.”

Thông tin trong phần này được trích từ cuốn sách của  Thầy Thích Nhất Hạnh At Home in the World - Nơi đâu cũng là nhà (2016), một buổi hỏi đáp ngày 29 tháng 8 năm 2013 tại Tu viện Bích Nham, và một bài pháp thoại ngày 21 tháng 6 năm 2009 tại Làng Mai.

Pg2 Brotherhood Friendship with Dr Martin Luther King Jr

Nỗi khổ và những khó khăn của chính mình đã trở thành người thầy lớn nhất. "Điều khó nhất là không để mất hy vọng, không để rơi vào tuyệt vọng," Thầy nói. "Trong một hoàn cảnh đau khổ tột cùng như thế, chúng ta [phải] thực tập theo cách để nuôi dưỡng và giữ gìn được niềm hy vọng cùng lòng từ bi.”


Nuôi dưỡng Hy vọng

Vào thời điểm đó, một trong những ngôi làng mà họ đã giúp đỡ gần Khu Phi Quân Sự bị ném bom. Họ lại dựng lên lần nữa. Khi ngôi làng bị ném bom lần thứ hai, các nhân viên xã hội hỏi Thầy có nên tiếp tục dựng lại không, Thầy trả lời: "Có." Khi bị ném bom lần thứ ba, Thầy trầm ngâm một lúc rồi lại đáp: "Có."

Như Thầy sau này chia sẻ: "Lúc ấy dường như không còn chút hy vọng nào về một sự kết thúc, vì cuộc chiến đã kéo dài quá lâu. Tôi đã phải thực tập rất nhiều hơi thở chánh niệm và trở về với chính mình. Tôi phải thú thật rằng vào thời điểm đó tôi không còn nhiều hy vọng, nhưng nếu không có hy vọng nào, điều đó sẽ là thảm kịch cho những người trẻ này. Tôi đã phải thực tập thật sâu và nuôi dưỡng chút hy vọng nhỏ bé còn lại bên trong để có thể là nơi nương tựa cho họ."

Thông tin này được trích từ cuốn sách của Thầy At Home in the World -Nơi đâu cũng là nhà (2016).

Pg2 Nourishing Hope

Thiết lập Trật tự của Tương Tức

Vào tháng 2 năm 1966, Thầy đã tiến thêm một bước trong việc xây dựng cộng đồng và thành lập Dòng Tu Tiếp Hiện, một dòng tu mới dựa trên các giới Bồ Tát truyền thống của Phật giáo, được thể hiện qua tầm nhìn đổi mới về một Phật giáo hiện đại và dấn thân.

Sự ra đời của Dòng Tu Tiếp Hiện thể hiện lời dạy của Thầy về “không đứng về phe nào trong xung đột,” và nhấn mạnh sự không bám chấp vào quan điểm cũng như sự tự do khỏi mọi ý thức hệ. Đối với Thầy, những giới này là “một câu trả lời trực tiếp cho chiến tranh, một câu trả lời trực tiếp cho chủ nghĩa giáo điều, nơi mọi người sẵn sàng giết và chết vì niềm tin của mình.”

Ngày nay, có hơn 3.000 thành viên của Dòng Tu Tiếp Hiện trên khắp thế giới.


Mười Bốn Giới Pháp Chánh Niệm

Trong bài pháp thoại ngày 7 tháng 4 năm 2008 tại Hà Nội, Thầy đã nhắc lại phiên bản đầu tiên của Mười Bốn Giới Tiếp Hiện:

  1. Đừng bị ràng buộc bởi giáo điều hay lý thuyết.
  2. Đừng nghĩ rằng có một chân lý bất biến hay tuyệt đối.
  3. Đừng ép buộc người khác chấp nhận quan điểm của mình.
  4. Đừng nhắm mắt làm ngơ trước khổ đau.
  5. Đừng trở nên giàu có trong khi người khác còn thiếu ăn.
  6. Đừng ôm giữ giận dữ và hận thù.
  7. Đừng nói những lời gây chia rẽ.
  8. Đừng nói những điều không đúng sự thật.
  9. Đừng sử dụng Phật giáo để mưu cầu lợi ích cá nhân.
  10. Đừng làm những công việc gây hại cho con người hoặc thiên nhiên.
  11. Đừng giết hại.
  12. Đừng chiếm hữu những gì có thể gây hại cho người khác.
  13. Đừng ngược đãi thân thể của mình.
  14. Và cuối cùng, đừng nghĩ rằng thầy của bạn, Thầy, có thể giữ trọn vẹn từng giới một cách hoàn hảo.

Kêu gọi chấm dứt bạo lực

Như Thầy đã viết: “Chiến tranh Việt Nam, trước hết và trên hết, là một cuộc đấu tranh ý thức hệ. Để bảo toàn sự sống còn của nhân dân, chúng ta phải vượt thoát khỏi cả chủ nghĩa cuồng tín cộng sản lẫn chống cộng, và giữ vững sự trung lập nghiêm ngặt nhất. Phật tử đã cố gắng hết sức để đại diện cho tất cả mọi người và không đứng về phe nào, nhưng chúng tôi lại bị kết án là "những kẻ trung lập thân cộng."

Cả hai phe đều tuyên bố mình đại diện cho nguyện vọng thực sự của nhân dân, nhưng miền Bắc thì gắn với khối cộng sản, còn miền Nam thì gắn với khối tư bản. Người Phật tử chỉ muốn tạo ra một phương tiện để tiếng nói của nhân dân được lắng nghe, và nhân dân chỉ khao khát hòa bình, chứ không phải là ‘chiến thắng’ của bất kỳ phe nào.”

Và như Thầy nói: “…tiếng máy bay gầm rú và bom đạn quá lớn. Người dân thế giới không thể nghe thấy chúng tôi. Vì vậy, tôi đã quyết định sang Mỹ để kêu gọi chấm dứt bạo lực.”

Thông tin trong phần này được trích từ cuốn sách của Thầy Love in Action (1993) và từ một buổi nói chuyện công khai tại Nhà thờ Riverside, NYC, vào ngày 25 tháng 9 năm 2001.

Pg2 Calling for a Cessation of Violence

Rời Việt Nam để Kêu Gọi Hòa Bình

Vào mùa xuân năm 1966, Thầy được Tiến sĩ George Kahin của Đại học Cornell mời sang Hoa Kỳ để thực hiện một loạt bài giảng về tình hình Việt Nam tại Khoa Chính trị Đông Nam Á. Chuyến đi được tài trợ bởi Nhóm Liên Đại học của Cornell.

Alfred Hassler, Tổng Thư ký của Hội Đoàn Kết Hòa Bình (một tổ chức liên tôn quốc tế nổi tiếng vì hòa bình và công lý), sau đó mời Thầy đi thuyết trình tại các trường đại học và nhà thờ trên khắp Hoa Kỳ, châu Âu, châu Á và Úc để cất tiếng nói cho hòa bình. Trước đó một năm, ông Hassler đã đến thăm Việt Nam và gặp Thầy tại Đại học Vạn Hạnh vào mùa hè.

Thầy rời Việt Nam ngày 11 tháng 5 năm 1966, với dự định cho một chuyến đi ngắn ngày. Nhưng phải đến 39 năm sau, Thầy mới có thể trở về quê hương. Vào đêm trước ngày khởi hành, Sư phụ đã chính thức truyền đăng tục diệm cho Thầy. Trong nghi lễ Phật giáo thiêng liêng này, Thầy trở thành một vị Pháp sư của dòng Liễu Quán, thuộc thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế. Sư phụ cũng bày tỏ nguyện vọng trong tương lai sẽ truyền lại chức trụ trì chùa Từ Hiếu cho Thầy.

Khi rời Việt Nam, Thầy đã là một trong những nhân vật hàng đầu của phong trào hòa bình và công tác xã hội Phật giáo, tác giả của mười cuốn sách, và cũng là một trong những nhà thơ được yêu mến nhất đất nước.

Chuyến đi diễn thuyết năm 1966 đã đưa Thầy đến 19 quốc gia, kêu gọi hòa bình và chuyển tải những khát vọng cùng nỗi khổ đau của quần chúng không có tiếng nói ở Việt Nam. Nhà báo James A. Wechsler, trong một bài báo đăng trên New York Post ngày 18 tháng 5 năm 1966 đã viết về ấn tượng của ông chỉ vài ngày sau khi Thầy đến Mỹ:

“Ngài là một nhân vật nhỏ bé, mảnh khảnh, khoác áo cà sa; đôi mắt Ngài lúc buồn bã, lúc sinh động; giọng nói của Ngài khiêm nhường và lay động lòng người. Theo ngôn ngữ Mỹ, có lẽ đã có một cái giá đặt lên đầu Ngài ở Sài Gòn của Tướng Kỳ. [...Ngài] đã nói bằng ngôn ngữ quốc tế của một học giả bị cuốn vào vở kịch lịch sử, kêu gọi không phải hòa bình bằng mọi giá, mà là chấm dứt sự điên rồ. […] Khi được hỏi về ‘tự do’ và ‘dân chủ,’ Ngài sẽ hỏi lại: ‘Tự do và dân chủ có ích gì nếu bạn không còn sống?’ […] Khi lắng nghe nhân vật mảnh khảnh, chân thành này, người ta tự hỏi liệu Bộ Ngoại giao có để Tổng thống Johnson gặp trực tiếp Ngài hay không.”

Tại Hoa Kỳ, Thầy đã gặp gỡ các nhà hoạt động hòa bình nổi tiếng và những nhà thần học Kitô giáo như Cha Daniel Berrigan và Cha Thomas Merton, cũng như các chính trị gia hàng đầu, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Thượng nghị sĩ Edward Kennedy.

Trong tập Learning to Love: The Journals of Thomas Merton, Volume Six (1997), Thomas Merton đã ghi lại trong nhật ký của mình sau lần đầu tiên gặp Thầy: “Trước hết, Ngài là một nhà sư đích thực; rất tĩnh lặng, hiền hòa, khiêm tốn, nhún nhường, và bạn có thể cảm nhận được sự chánh niệm nơi vị thầy tu này.”


“Chúng tôi đã nói về nhân quyền, hòa bình, bất bạo động,” Thầy nhớ lại.


Năm đó, Thầy cũng đã gặp Tiến sĩ Martin Luther King, Jr., người mà Thầy đã bắt đầu trao đổi thư từ từ một năm trước. “Chúng tôi đã nói về nhân quyền, hòa bình và bất bạo động,” Thầy nhớ lại. “Những gì chúng tôi đang làm rất giống nhau, xây dựng cộng đồng, gieo trồng hạt giống của trí tuệ, từ bi và bất bạo động.” Ngày 31 tháng 5 năm 1966, họ tổ chức một cuộc họp báo tại khách sạn Sheraton ở Chicago, một trong những lần đầu tiên Tiến sĩ King công khai lên tiếng chống lại chiến tranh Việt Nam.

Trong một tuyên bố chung, họ đã so sánh những người biểu tình đòi quyền dân sự và những vụ tự thiêu ở Việt Nam: “Chúng tôi tin rằng những Phật tử đã hy sinh bản thân, cũng như các vị tử đạo của phong trào đòi quyền dân sự, không nhằm gây tổn thương cho những kẻ áp bức, mà chỉ nhằm thay đổi chính sách của họ. Kẻ thù của những người đấu tranh cho tự do và dân chủ không phải là con người. Đó là sự phân biệt đối xử, độc tài, lòng tham, hận thù và bạo lực, ẩn náu trong trái tim con người. Đây mới là kẻ thù thực sự của con người, chứ không phải chính con người.”

Theo báo cáo của FBI, trước đó trong ngày, Thầy đã tham dự một buổi lễ cầu nguyện hòa bình liên tôn tại Nhà nguyện Rockefeller trong khuôn viên Đại học Chicago, với sự hiện diện của nhiều vị giáo sĩ cấp cao.

Chuyến đi năm 1966 là một giai đoạn căng thẳng. Ngày hôm sau cuộc gặp với Tiến sĩ Martin Luther King ở Chicago, Thầy bay đến Washington, D.C. Tại một buổi họp báo ngày 1 tháng 6, Thầy đã trình bày một đề xuất hòa bình gồm năm điểm nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam, trong đó có lời kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức và đưa ra lịch trình rút quân của Hoa Kỳ.

Theo cuốn Learning True Love  - Học thương yêu (2007) của Sư cô Chân Không, năm điểm ấy bao gồm:

  1. Hoa Kỳ cần đưa ra một tuyên bố rõ ràng về mong muốn giúp nhân dân Việt Nam có được một chính phủ thật sự đáp ứng nguyện vọng của người dân.
  2. Hoa Kỳ phải chấm dứt tất cả các cuộc ném bom.
  3. Quân đội Hoa Kỳ cần giới hạn hành động của mình trong vai trò phòng thủ thuần túy.
  4. Hoa Kỳ phải chứng tỏ rõ ràng ý định rút quân trong một thời hạn cụ thể, tính bằng tháng.
  5. Hoa Kỳ nên cung cấp viện trợ tái thiết mà không gắn kèm bất kỳ điều kiện ý thức hệ hay chính trị nào.

“Ngay trong ngày hôm đó, Thầy đã bị lên án trên đài phát thanh Sài Gòn, trên báo chí và bởi chính quyền Thiệu–Kỳ như một kẻ phản bội. Từ thời điểm ấy, việc trở về Việt Nam không còn an toàn nữa. Thầy đã quyết định sẽ quay về sau chuyến đi diễn thuyết, dù biết rõ những rủi ro. Nhưng chúng tôi trong Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã tha thiết khẩn cầu Thầy hãy chờ thêm.”


Bị từ chối trở về Việt Nam, Thầy bước vào cuộc lưu đày kéo dài gần bốn mươi năm. “Bởi vì,” sau này Thầy nói, “tôi đã dám cất tiếng kêu gọi hòa bình.”


Lời kêu gọi chấm dứt bạo lực

Một tuần sau khi bị gán là kẻ phản bội Việt Nam, những vần thơ hòa bình đầy sức mạnh của Thầy đã được đăng trên trang nhất của tờ New York Review of Books. Cùng đêm đó, một sự kiện đặc biệt mang tên “Việt Nam và Lương tâm Hoa Kỳ” được tổ chức cho Thầy tại New York Town Hall, với sự góp mặt của nhà viết kịch Arthur Miller, nhà thơ Robert Lowell, và Cha Daniel Berrigan, tất cả đều là những tiếng nói công khai phản đối chiến tranh. Ngày 25 tháng 6 năm 1966, Thầy xuất hiện trên chuyên mục “Talk of the Town” của The New Yorker.

Chiến tranh trong cơn tuyệt vọng đã đưa Thầy từ chốn ẩn tu truyền thống tại Việt Nam ra ngay tuyến đầu của bối cảnh chính trị và trí thức Hoa Kỳ những năm 60.

Cha Thomas Merton đã viết lời tựa cho ấn bản tiếng Anh cuốn sách của Thầy năm 1967, Lotus in a Sea of Fire, được xuất bản tại Hoa Kỳ cùng năm bởi nhà xuất bản Hill & Wang. (Ấn bản tiếng Việt: Nhất Hạnh, Hoa Sen Trong Biển Lửa). Cuốn sách là một lời kêu gọi hùng hồn, mạnh mẽ, sâu sắc và sáng suốt để chấm dứt bạo lực. Tại Việt Nam, sách được in bí mật, phát hành qua nhiều ấn bản và bán được hàng chục nghìn cuốn.


Lên tiếng vì hòa bình trên toàn thế giới

Hội Thân hữu Hòa giải đã sắp xếp để Thầy tiếp tục cất tiếng nói vì hòa bình tại châu Âu. Thầy có hai lần gặp gỡ với Giáo hoàng Phaolô VI, và đã mời ngài sang thăm Việt Nam. Theo tài liệu lưu trữ của Hội Thân hữu Hòa giải, “Thích Nhất Hạnh: Tiểu sử ngắn gọn” (1970), hiện còn lưu tại kho lưu trữ của F.O.R. ở Swarthmore, “những chuyến đi tiếp theo đến miền Bắc và miền Nam Việt Nam của Tổng Giám mục Pignedoli và Đức ông Huessler đã được các ký giả Vatican cho là gắn liền với đề nghị của Nhất Hạnh.”

Thầy đã tổ chức các cuộc họp báo tại Copenhagen, Paris, Rome, Geneva, Amsterdam và Brussels. Thầy nói về tình hình ở Việt Nam tại các trường đại học và nhà thờ, thường trước những thính giả đông hơn một nghìn người. Thầy đã phát biểu tại quốc hội Anh, Canada và Thụy Điển, và gặp gỡ triết gia Bertrand Russell ở Anh. Tại Canada, Thầy là người đầu tiên không phải công dân Canada được mời phát biểu trước Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.


Kêu gọi Hòa bình Giữa Bi kịch Cá nhân

Theo các tài liệu cá nhân chưa được công bố của Thầy, tại Hà Lan Thầy đã kết bạn với Hebe Kohlbrugge, một chiến sĩ kháng chiến trong Thế chiến II, và nhà thần học Hannes de Graaf; tại Đức, Thầy trở nên thân thiết với Mục sư Luther Heinz Kloppenburg và Martin Niemöller, nhà thần học và là người phản kháng chế độ Đức Quốc Xã, tất cả đều trở thành những người bạn tin cậy của Thầy ở châu Âu. Mùa thu năm ấy, hành trình kêu gọi hòa bình của Thầy tiếp tục đến Úc, New Zealand, Philippines và Nhật Bản.

Khi đi từ thành phố này sang thành phố khác để kêu gọi hòa bình, Thầy nhận tin về những bi kịch trong cộng đồng của mình ở Việt Nam. Ngay sau khi Thầy rời đi, khuôn viên Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội bị tấn công bằng lựu đạn; rồi một lần nữa vào ngày 24 tháng 4 năm 1967 (theo các tài liệu cá nhân chưa công bố của Thầy), vụ nổ đã cướp đi sinh mạng của một nhân viên xã hội sinh viên và một giáo sư thỉnh giảng, đồng thời làm mười sáu người khác bị thương.

Tháng 5 năm ấy, khi đang ở Paris, Thầy nhận tin đau buồn: học trò của mình, Nhất Chi Mai, một trong sáu người đầu tiên xuất gia trong Tăng đoàn Tiếp Hiện đã tự thiêu. Ngày 14 tháng 6 năm 1967, năm nhân viên xã hội trẻ của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội bị những kẻ có vũ trang đưa ra bờ sông Bình Phước và bắn. Một người rơi xuống nước thoát chết; bốn người khác đã mất ngay tại chỗ.

Cuộc tấn công được kể lại trong cuốn sách của Sư cô Chân Không, Learning to love - Học thương yêu (Tái bản 2007).


Phản ứng với Mất mát Cá nhân

Khi nghe tin về những nhân viên xã hội trẻ của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, Thầy đã bật khóc. Một người bạn an ủi: “Thầy ơi, không cần khóc. Thầy là một vị tướng đang dẫn dắt một đạo quân bất bạo động. Có thương vong cũng là lẽ tự nhiên.” Thầy đáp: “Không, tôi không phải là một vị tướng. Tôi chỉ là một con người. Chính tôi đã kêu gọi họ phục vụ, và giờ đây họ đã hiến dâng mạng sống. Tôi phải khóc.”

Bi kịch ấy đã để lại dấu ấn sâu sắc nơi Thầy, thôi thúc Thầy đi sâu hơn vào việc tìm hiểu cội nguồn của hận thù và bạo lực, mà Thầy nhận ra nằm ở những nhận thức sai lầm. Thầy nói: “Chúng ta phải dùng thanh kiếm của sự hiểu biết để chấm dứt mọi quan niệm ta có về nhau, mọi khái niệm và nhãn mác. Tất cả những nhãn mác ấy cần được cắt bỏ. Quan điểm có thể đưa ta đến cuồng tín. Chúng có thể hủy diệt con người. Chúng có thể hủy diệt tình thương.”


“Những ý tưởng của Thầy về hòa bình, nếu được thực hiện, sẽ trở thành một tượng đài cho tinh thần đại kết, cho tình huynh đệ toàn cầu, cho nhân loại.”

- Tiến sĩ Martin Luther King, Jr.

Tình Huynh Đệ với Tiến sĩ Martin Luther King, Jr.

Tháng 1 năm 1967, sáu tháng sau lần gặp đầu tiên, Tiến sĩ Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình, viết rằng: “Những ý tưởng về hòa bình của Thầy, nếu được thực hiện, sẽ dựng nên một tượng đài cho tinh thần đại kết, cho tình huynh đệ thế giới, cho nhân loại.”Xem toàn văn bức thư đề cử.

Vài tháng sau, ngày 4 tháng 4 năm 1967, Tiến sĩ King trích dẫn cuốn Lotus in a Sea of Fire của Thầy trong bài diễn văn mang tính bước ngoặt “Beyond Vietnam” tại Nhà thờ Riverside, New York. Đây là lần đầu tiên ông công khai lên án cuộc chiến, và chính bài nói này đã gắn kết phong trào hòa bình với phong trào dân quyền. Trong đó, Tiến sĩ King vang vọng thông điệp mạnh mẽ của Thầy: “Con người không phải là kẻ thù của chúng ta. Kẻ thù của chúng ta là hận thù, kỳ thị, cuồng tín và bạo lực.” Khi Tiến sĩ King xuống đường tuần hành phản đối chiến tranh, ông đi dưới những biểu ngữ mang dòng chữ ấy bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, chẳng hạn, ví dụ, vào ngày 25 tháng 3 năm 1967 khi dẫn đầu một cuộc tuần hành chống chiến tranh Việt Nam tại Chicago.

Thầy và Tiến sĩ King gặp nhau lần thứ hai, cũng là lần cuối vào tháng 5 năm 1967 tại Geneva, trong Hội nghị Pacem in Terris (II) do Hội đồng Giáo hội Thế giới tổ chức. Các cuộc thảo luận của họ tập trung vào một tầm nhìn chung về “cộng đồng yêu thương”, tình huynh đệ giữa các dân tộc và quốc gia, được xây dựng trên nền tảng bất bạo động, hòa giải, công lý, bao dung và chấp nhận, nơi ngay cả kẻ thù cũng có thể trở thành bạn bè.

Tầm nhìn chung của Thầy và Tiến sĩ King không phải là một ảo tưởng viển vông, mà là một mục tiêu thực tế, có thể thành tựu khi đủ nhiều người được nuôi dưỡng và rèn luyện trong các nguyên tắc và thực tập của hòa bình và bất bạo động.

Chưa đầy một năm sau, Tiến sĩ King bị ám sát. Khi nghe tin buồn ấy, Thầy đang ở Hoa Kỳ. Tình bạn, sự can đảm, tầm nhìn chung, và rồi sự mất mát ấy đã để lại dấu ấn sâu sắc nơi Thầy. “Tôi đã suy sụp,” Thầy kể lại sau này. “Tôi không thể ăn. Tôi không thể ngủ. Tôi đã phát nguyện sâu sắc sẽ tiếp tục xây dựng điều mà ông gọi là ‘cộng đồng yêu thương,’ không chỉ cho riêng tôi mà còn cho ông nữa. Tôi đã làm những gì tôi hứa với Martin Luther King, Jr. Và tôi nghĩ rằng tôi luôn cảm nhận được sự nâng đỡ từ ông ấy.”


Đàm phán Hòa bình Paris và Sự tham gia của những nhân tố mới

Lịch trình không ngơi nghỉ đã đưa Thầy qua Hồng Kông và Ấn Độ,trở lại Paris, nơi Thầy tiếp tục công việc vì hòa bình tại Hội nghị Hòa bình Paris (1968–1973), với tư cách là đại diện chính thức của Phái đoàn Hòa bình Phật giáo Việt Nam. Thầy được Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam đề cử vào vai trò này.

Cùng với các tình nguyện viên và bạn bè đến giúp sức, họ thuê một căn hộ nhỏ trong khu phố nghèo của người Ả Rập ở Paris. Bên cạnh công việc hòa bình, họ tiếp tục nỗ lực cứu trợ cho Việt Nam, và chẳng bao lâu sau đã khởi động chương trình bảo trợ cho hàng nghìn trẻ em mồ côi vì bạo lực chiến tranh. Đến năm 1975, đã có 20.000 ân nhân ở châu Âu và Mỹ nâng đỡ hơn 10.000 trẻ mồ côi tại Việt Nam.

Lưu ý: Chi tiết trong phần này được trích từ cuốn sách của Sư cô Chân Không, Learning True Love (2007).


Kết hợp Chánh niệm & Lòng từ bi

Làm việc những ngày dài, Thầy hướng dẫn cộng đồng nhỏ ở Paris để kết hợp chánh niệm và lòng từ bi trong mọi hành động: dù là gọi điện thoại, soạn thảo tài liệu, viết thư, ăn cơm cùng nhau, hay đơn giản là rửa bát. Những ngày kết thúc bằng những bài hát và ngồi thiền im lặng.

Vào cuối tuần, Thầy tổ chức các buổi thiền và chánh niệm công cộng tại một nhà nguyện Quaker gần đó, thu hút nhiều người trẻ tìm kiếm. Chính trong thời gian này, Thầy đã đào sâu tình bạn và đối thoại với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác, đặc biệt là các linh mục và mục sư Kitô giáo, sau này dẫn đến một loạt sách mạnh mẽ về đối thoại Phật giáo-Kitô giáo. Linh mục Dòng Tên và nhà hoạt động hòa bình Cha Daniel Berrigan thậm chí đã đến sống với Thầy trong vài tháng để học thiền.

Cha Daniel Berrigan đến vào tháng 9 năm 1974. Những cuộc trò chuyện đêm khuya đầy ý nghĩa giữa hai người tại văn phòng ở Sceaux đã được ghi lại và xuất bản với tựa đề The Raft Is Not the Shore: Conversations Toward a Buddhist–Christian Awareness (Beacon Press, 1975).

Thông tin trong phần này được trích từ sách của Thầy Living Buddha, Living Christ (1995), và Going Home: Jesus and Buddha as Brothers (1999).


Ảnh hưởng của Đại sư Đàm Hoài

Khi ở Paris, Thầy bắt đầu giảng dạy Phật học tại ngôi trường danh tiếng Sorbonne École Pratique des Hautes Études. Với vai trò giáo sư, Thầy được tiếp cận bộ sưu tập bản thảo Phật giáo đồ sộ của Thư viện Quốc gia. Tại đây, Thầy phát hiện những tư liệu quý hiếm ghi lại cuộc đời Thiền sư Tăng Hội, một vị sư mang dòng máu Việt–Ấn ở thế kỷ thứ ba, người trở thành Thiền sư đầu tiên tại Trung Quốc, ba thế kỷ trước Bồ Đề Đạt Ma. Công trình nghiên cứu này được Thầy giới thiệu đến độc giả phương Tây qua cuốn Zen Keys, xuất bản lần đầu năm 1972 bằng tiếng Pháp với tựa đề Les Clés Pour le Zen, và sau đó trong cuốn Master Tang Hoi: First Zen Teacher in Vietnam and China (2001).

Thiền sư Tăng Hội đã thực tập và giảng dạy Thiền, là một trong những người tiên phong của truyền thống Đại thừa, dựa trên các bản văn thiền định của Phật giáo nguyên thủy, trong đó có những kinh điển nhấn mạnh đến hơi thở chánh niệm và sự tỉnh thức (Kinh Satipaṭṭhāna và Ānāpānasati). Việc phát hiện ra các tác phẩm của một vị thiền sư Việt Nam quan trọng thời kỳ đầu như vậy đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc, mở ra con đường cho pháp môn Thiền mà sau này Thầy phát triển và giảng dạy ở phương Tây.


Tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường

Hoạt động công khai của Thầy không chỉ giới hạn trong lĩnh vực Phật giáo và hòa bình. Cùng với Alfred Hassler (thuộc Hội Thân hữu Hòa giải) và nhiều trí thức, nhà khoa học hàng đầu khác, Thầy đã góp phần tổ chức hội nghị môi trường đầu tiên ở châu Âu, tại Menton, Pháp. Sáng kiến này khởi đầu với “Tuyên bố Menton,” được đăng trên tạp chí UNESCO Courier. “Thông điệp gửi đến 3,5 tỷ người láng giềng trên Trái Đất” (nói về sự tàn phá môi trường, ô nhiễm và gia tăng dân số)  và đã có hơn 2.000 nhà khoa học ký tên.

Năm sau, Thầy và các cộng sự đã gặp Tổng thư ký Liên Hợp Quốc U Thant để vận động sự ủng hộ của ông, và đến năm 1972 đã tổ chức Hội nghị Môi trường “Đại Đồng” song song với Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về Môi trường Con người tại Stockholm.

Theo cuốn Learning True Love (2007) của Sư cô Chân Không, tại Stockholm, Cao Ngọc Phương đã có nhiều cuộc gặp gỡ sôi nổi với các cơ quan chính phủ và các bộ trưởng, và đã thành công trong việc thuyết phục họ tài trợ cho các chương trình công tác xã hội của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội/Giáo hội Phật giáo Thống nhất nhằm tái thiết những ngôi làng bị bom phá ở Việt Nam. Khoản tài trợ đầu tiên, thông qua Nhà thờ Lutheran Thụy Điển, là 300.000 đô la Mỹ.

Quan điểm sinh thái sâu sắc, giáo lý tương tức, và tầm quan trọng của việc bảo vệ Trái Đất tiếp tục trở thành một mạch nguồn mạnh mẽ trong các bài giảng, đạo lý và tác phẩm của Thầy.

Christiana Figueres là Thư ký Điều hành Công ước Khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu từ tháng 7 năm 2010 đến năm 2016. Trong vai trò này, bà đã triệu tập Hội nghị dẫn đến Hiệp định Paris lịch sử năm 2015.


Phép màu của Chánh niệm

Năm 1975, Thầy hoàn thành bản thảo cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức. Ban đầu, đây là cẩm nang viết cho các nhân viên xã hội ở Việt Nam, nhằm trao cho họ sức mạnh tinh thần để tiếp tục công việc mà không bị kiệt quệ. Thế nhưng, chỉ sau đó không lâu, sách đã trở thành một cẩm nang thiền định hàng đầu ở phương Tây.

Trong lời tựa mới của Giáo sư Mark Williams (Đại học Oxford) cho cuốn Thích Nhất Hạnh, Phép lạ của sự tỉnh thức (Phiên bản quà tặng, 2015), ông viết:

Như Jon Kabat-Zinn sau này nhận xét: “Đây là cuốn sách đầu tiên đánh thức độc giả đại chúng về chánh niệm.” Cuốn sách đã mở ra một hướng đi mới trong bối cảnh thực tập thiền cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, đưa thiền ra khỏi thiền đường và chỉ bày cách đưa chánh niệm vào đời sống hằng ngày. Một học giả của Đại học Oxford đã nói: “Cuốn sách đã âm thầm gieo mầm cho một cuộc cách mạng.”

Ngày nay, tác phẩm này đã trở thành một kinh điển bán chạy nhất về thiền định, được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ.

Cuốn The Miracle of Mindfulness-Phép lạ của sự tỉnh thức lần đầu tiên được xuất bản tại Hoa Kỳ vào năm 1974 bởi Hội Thân hữu Hòa giải, với tựa đề  The Miracle of Being Awake-Phép Màu Của Sự Tỉnh Thức. Chỉ đến năm 1975, khi được nhà xuất bản Beacon Press chấp nhận, sách mới mang tựa đề hiện nay: Phép lạ của sự tỉnh thức. Ở London, Pax Christi phát hành sách với tựa đề  Be Still and Know: Meditation for Peacemakers Hãy Tĩnh Lặng và Biết: Thiền Định Cho Những Người Kiến Tạo Hòa Bình. Bản tiếng Pháp đầu tiên có tên Le Miracle est de Marcher sur Terre (“Phép Màu Là Đi Trên Mặt Đất”). Năm 1976, sách tiếp tục được xuất bản tại Sri Lanka và Thái Lan như “một cẩm nang thiền định dành cho các nhà hoạt động trẻ.”

Phần Trước

Phát triển Chánh niệm Toàn cầu

Hãy tiếp tục đọc để khám phá câu chuyện của Thầy khi Thầy tiên phong mở rộng các cộng đồng chánh niệm, làm sâu sắc khái niệm tương tức, và nối kết chánh niệm với khổ đau cũng như với những hoạt động bảo vệ môi trường.

Phần Tiếp Theo

Biến Hộp Thư của Bạn thành Cửa Pháp

Đăng ký nhận bản tin Coyote Tracks của chúng tôi trên Substack để nhận thông báo sự kiện, bài viết, nghệ thuật, âm nhạc và thiền định từ các nhà sư Deer Park.

Media 2